Thực trạng và chuyển biến nhận thức
Trước năm 2020, 8 xã thuộc khu vực Mường Lát cũ (gồm Mường Chanh, Quang Chiểu, Tam Chung, Pù Nhi, Nhi Sơn, Trung Lý, Mường Lý và thị trấn Mường Lát) đối mặt với nhiều khó khăn. Tổng diện tích tự nhiên toàn khu vực là 81.240,93 ha, trong đó đất quy hoạch cho lâm nghiệp là 74.882,07 ha (chiếm trên 92%). Đây là nơi sinh sống của 6 dân tộc (Thái, Mông, Mường, Kinh, Khơ Mú, Dao), trong đó, đồng bào dân tộc Thái và Mông chiếm đa số (trên 85%).
Đời sống người dân phụ thuộc vào khai thác sản vật rừng tự nhiên (thu hái măng, dược liệu) và phương thức canh tác nương rẫy. Do ruộng nước khan hiếm, năng suất lao động thấp, tình trạng thiếu việc làm dẫn đến việc lao động trẻ phải rời địa phương làm thuê với thu nhập bấp bênh.
Từ năm 2020, việc triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, chính sách phát triển lâm nghiệp và chính sách hỗ trợ gạo cho hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng đã tạo ra những thay đổi tích cực. Nhận thức của người dân có sự chuyển biến rõ rệt, thể hiện qua việc trong hai năm gần đây, trên địa bàn không xảy ra tình trạng phá rừng hay cháy rừng. Hệ thống điện, đường, trường, trạm được đầu tư xây dựng đồng bộ, vươn tới các bản vùng sâu, vùng xa.

Trồng rừng thay thế - giải pháp trọng tâm cho kinh tế lâm nghiệp
Trên cơ sở nhận thức về bảo vệ rừng đã được nâng cao, bài toán tiếp theo là làm thế nào để người dân có thể làm giàu từ rừng. Câu trả lời là chiến lược trồng rừng thay thế, phát triển rừng gỗ lớn.
Hoạt động trồng rừng thay thế hiện nay là sự phối hợp đồng bộ của các đơn vị nòng cốt có chức năng quản lý, bảo vệ rừng tại địa phương: Hạt Kiểm lâm Mường Lát, Ban quản lý rừng phòng hộ (QLRPH) Mường Lát, Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Hu và 5 Đồn Biên phòng đóng quân trên địa bàn.
Để đạt được con số 747 ha rừng trồng mới trong 2 năm (2024-2025), đó là nỗ lực của các lực lượng chức năng trong công tác bám sát cơ sở. Hạt Kiểm lâm Mường Lát đóng vai trò chủ trì, điều phối công tác vận động. Giai đoạn 2024 – 2025, Hạt đã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chính quyền 8 xã, tổ chức hàng chục đợt tuyên truyền trực tiếp tại các nhà văn hóa bản và trên nương rẫy.
Các kiểm lâm viên địa bàn đã đi từng ngõ, gõ từng nhà, cùng với Phòng Kinh tế của xã rà soát từng vạt đất trống, từng diện tích trồng sắn, lúa nương bạc màu để thuyết phục bà con chuyển sang trồng rừng gỗ lớn. Sự kiên trì đó đã giúp người dân nhận thức rõ giá trị kinh tế dài hạn của rừng gỗ lớn so với cây sắn, ngô ngắn ngày.

Ban quản lý Khu BTTN Pù Hu và Ban QLRPH Mường Lát: Hỗ trợ kỹ thuật và nguồn giống. Là những đơn vị trực tiếp quản lý các diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ xung yếu, Ban quản lý Khu BTTN Pù Hu và Ban QLRPH Mường Lát không chỉ bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng hiện có mà còn cung cấp nền tảng kỹ thuật vững chắc cho nhân dân. Các đơn vị này đã hướng dẫn bà con quy trình trồng, chăm sóc cây lâm nghiệp theo đúng quy chuẩn, bảo đảm tỷ lệ cây sống cao. Sự đồng hành này giúp người dân yên tâm sản xuất, hạn chế rủi ro trong quá trình sinh trưởng của cây.
Các Đồn Biên phòng: Lực lượng tại chỗ, gắn bó với nhân dân. Đồn Biên phòng trên địa bàn là lực lượng cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào. Hình ảnh các chiến sĩ mang quân hàm xanh cùng dân bản cuốc đất, tra hạt, trồng cây trẩu trên các sườn dốc đã trở nên quen thuộc. Sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội biên phòng và người dân đã góp phần tạo nên những vành đai rừng vững chắc nơi biên giới.
Cây trẩu - lựa chọn chiến lược và triển vọng kinh tế

Trong chiến lược phát triển giai đoạn tới, đặc biệt là mục tiêu 400 ha trồng rừng thay thế trong năm 2026, cây trẩu được lựa chọn là loài cây trồng chính. Đây là lựa chọn dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn: Trẩu là loài cây bản địa, thích nghi tốt với thổ nhưỡng, khí hậu khắc nghiệt của vùng cao biên giới. Cây lớn nhanh, cho tán rộng, giúp che phủ đất trống đồi trọc, giữ nước, chống xói mòn hiệu quả. Hạt trẩu có giá trị kinh tế cao trong công nghiệp chế biến dầu, sơn; gỗ trẩu có thể khai thác làm lâm sản, mang lại nguồn thu nhập kép, bền vững.
Nhờ các chính sách hỗ trợ của nhà nước (cây giống, phân bón, kỹ thuật và chi phí chăm sóc từ nguồn vốn trồng rừng thay thế), nhận thức của người dân đã chuyển từ bị động sang chủ động tham gia. Người dân đã chủ động đăng ký đất trồng rừng. Đã xuất hiện những hộ gia đình đồng bào Thái, Mông mạnh dạn đăng ký diện tích lớn, với kỳ vọng phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập từ mô hình này.
Trao đổi với phóng viên, ông Lê Văn Minh, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mường Lát, cho biết: “Sau khi có kế hoạch trồng rừng, Hạt Kiểm lâm đã chỉ đạo Kiểm lâm viên địa bàn xuống cơ sở hướng dẫn kỹ thuật cho bà con và cùng tham gia trồng rừng. Kết quả, trong 2 năm (2024-2025), trên địa bàn đã trồng được 747 ha, trong đó trồng rừng gỗ lớn từ nguồn vốn trồng rừng thay thế là 597 ha, nguồn vốn xã hội hóa là 150 ha. Dự kiến trong năm 2026, chúng tôi sẽ đăng ký với tỉnh trồng thêm khoảng 400 ha từ nguồn vốn trồng rừng thay thế, cây trồng chính là cây trẩu”.
Chương trình trồng rừng thay thế không chỉ có ý nghĩa về môi trường mà còn là giải pháp sinh kế, góp phần giải quyết vấn đề giảm nghèo bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây. Dưới sự chỉ đạo của chính quyền địa phương và sự phối hợp của các đơn vị nòng cốt như Hạt Kiểm lâm, Ban QLRPH Mường Lát, Ban quản lý Khu BTTN Pù Hu và các Đồn Biên phòng, diện tích rừng gỗ lớn, đặc biệt là rừng trẩu đang phát triển tốt. Những cánh rừng này không chỉ củng cố vành đai xanh biên giới mà còn hứa hẹn mang lại hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống cho người dân tại vùng biên cương phía Tây tỉnh Thanh Hóa.