Cần sự phối hợp để EPR đạt được hiệu quả cao nhất

STNN - Nghị định số 110/2026/NĐ-CP là dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý về cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) tại Việt Nam. EPR không phải là một loại thuế mà là cơ chế trách nhiệm, trong đó nghĩa vụ đóng góp cần được thực hiện công bằng giữa các doanh nghiệp.

Nhức nhối với rác thải từ bao bì thuốc bảo vệ thực vật và phân bón

Sáng 14/4, tại tỉnh Đắk Lắk, Báo Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với Cục Môi trường, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk tổ chức Diễn đàn “Phổ biến quy định EPR đối với sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), phân bón và cơ chế hỗ trợ hoạt động xử lý bao bì thuốc BVTV tại các địa phương”. Chương trình đã thu hút sự tham gia của các đại biểu là đại diện các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương, các nhà khoa học, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp... theo hình thức trực tiếp và trực tuyến.

1-1776154722.jpg

Rác thải từ bao bì thuốc BVTV và phân bón đang là vấn đề nhức nhối hiện nay.

Diễn đàn là cơ hội để các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và doanh nghiệp cùng trao đổi, làm rõ các quy định, quy trình và cơ chế hỗ trợ, qua đó thúc đẩy việc triển khai hiệu quả chính sách EPR (Extended Producer Responsibility – Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu) trong thực tiễn. Đây là một cách tiếp cận chính sách môi trường, theo đó trách nhiệm của doanh nghiệp được mở rộng tới toàn bộ vòng đời sản phẩm, bao gồm cả giai đoạn sau sử dụng. Cơ chế này không chỉ góp phần hiện thực hóa nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” mà còn thúc đẩy cách tiếp cận quản lý theo vòng đời sản phẩm – nền tảng của kinh tế tuần hoàn.

Phát biểu khai mạc chương trình, Nhà báo Trần Văn Cao - Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Diễn đàn nhằm cập nhật, phổ biến các quy định mới về EPR, đặc biệt với bao bì thuốc BVTV và phân bón; đồng thời hướng dẫn, làm rõ cơ chế đóng góp, phân bổ và sử dụng kinh phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý bao bì sau sử dụng tại các địa phương. Bên cạnh đó, Diễn đàn tạo không gian đối thoại đa chiều giữa cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và doanh nghiệp để trao đổi, tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai.

“Thông qua các phiên trình bày và thảo luận, đại biểu sẽ có cái nhìn đầy đủ, rõ ràng hơn về EPR, cũng như nắm bắt được quy trình và công cụ cần thiết để triển khai hiệu quả. Quan trọng hơn, Diễn đàn hướng tới tăng cường sự hiểu biết và đồng thuận giữa các bên liên quan; thúc đẩy áp dụng thực tế cơ chế EPR, đặc biệt tại khu vực Tây Nguyên; và từng bước hình thành hệ thống thu gom, xử lý bao bì thuốc BVTV bền vững, hiệu quả trên phạm vi toàn quốc” - Nhà báo Trần Văn Cao kỳ vọng.

2-1776154722.jpg
Nhà báo Trần Văn Cao - Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại Diễn đàn.

Đánh giá về thực trạng xử lý bao bì thuốc BVTV và phân bón, ông Lương Ngọc Quang - Phó Trưởng phòng An toàn thực phẩm và Môi trường (Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật) cho biết: “Tình trạng vứt bỏ bao bì trên đồng ruộng, kênh mương còn phổ biến, phản ánh thói quen “tiện đâu vứt đấy”, gây nguy cơ ô nhiễm đất và nguồn nước. Bên cạnh đó, hạ tầng thu gom chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều bể chứa còn thiếu hoặc được xây dựng không đúng chuẩn. Nhiều địa phương dù đã thu gom bao bì nhưng không đủ nguồn lực để vận chuyển và xử lý theo quy định, trong khi cơ chế hỗ trợ còn thiếu rõ ràng”.

Cũng theo ông Lương Ngọc Quang, các cơ quan chức năng cần tăng cường tuyên truyền để thay đổi nhận thức và hành vi của người dân, hoàn thiện hạ tầng và tháo gỡ vướng mắc về cơ chế tài chính, qua đó bảo đảm quy trình xử lý chất thải nguy hại được thực hiện đúng quy định và bền vững.

Chia sẻ về thực trạng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, ông Nguyễn Hắc Hiển - Chi Cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh Đắk Lắk cho biết, dù đã tổ chức nhiều lớp tập huấn và ký hợp đồng xử lý chất thải nguy hại, công tác thu gom vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân là do hạ tầng thiếu đồng bộ, bể chứa xuống cấp, việc thu gom không thường xuyên. Một số địa phương chưa chủ động triển khai, trong khi người dân còn thiếu kiến thức và thông tin.

“Công tác kiểm tra, giám sát cần được thực hiện thường xuyên hơn. Các vi phạm về môi trường phải bị xử lý nghiêm để tạo tính răn đe. Trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh thuốc BVTV cần được quy định rõ ràng. Các đơn vị này phải tham gia vào quá trình thu gom bao bì sau sử dụng, thay vì chỉ dừng lại ở khâu bán hàng. Về hạ tầng, tôi cho rằng nên ưu tiên đầu tư xây mới các bể chứa và khu lưu trữ tạm thời, đồng thời sửa chữa các công trình xuống cấp. Hệ thống giao thông nội đồng cũng cần được cải thiện để thuận lợi cho việc vận chuyển. Tỉnh cũng cần bố trí kinh phí ổn định hằng năm, trong khi chính quyền cấp xã phải chủ động tổ chức thu gom và xử lý theo quy định” - ông Hiển kiến nghị.

3-1776154722.jpg
Ông Nguyễn Hắc Hiển - Chi Cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh Đắk Lắk cho rằng cần quy định rõ trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh thuốc BVTV.

EPR sẽ giúp giải quyết rác thải từ bao bì

Trong khi đó, bà Triệu Thị Châu - Giám đốc HTX Nông nghiệp và Dịch vụ Bình Minh cho rằng, vấn đề rác thải nông nghiệp đang gặp điểm nghẽn ở khâu xử lý cuối cùng. Theo bà, nhiều địa phương đã có bể chứa bao bì thuốc BVTV, tuy nhiên, rác sau khi gom lại “bị kẹt” vì không ai chịu trách nhiệm vận chuyển đi xử lý. Hệ quả là rác tồn đọng, người dân buộc phải tự xoay xở bằng các cách như đốt tại vườn, chở nhờ xe rác sinh hoạt, thậm chí mang vứt ở khu vực khác. “Dù là người trực tiếp thải bỏ bao bì, nhưng nông dân lại chưa có đủ kiến thức và điều kiện để xử lý đúng cách”, bà Châu nói và nhấn mạnh không thể đẩy toàn bộ trách nhiệm cho người nông dân.

Tương tự, TS. Phạm Tuấn Anh - Nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Nông cho rằng, đằng sau những “mùa vàng” bội thu là hàng chục nghìn tấn bao bì thuốc BVTV và chất thải rắn phát sinh mỗi năm. Chúng ta không chỉ đo lường sản lượng thu hoạch mà còn phải tính đến lượng chất thải phát sinh và “sức khỏe” của đất như một chỉ số phát triển bền vững.

4-1776154722.jpg
TS Phạm Tuấn Anh - Nguyên Giám đốc Sở NN-PTNT Đắk Nông cho rằng sự đứt gãy hệ thống xử lý rác thải từ thuốc BVTV và phân bón nằm ở việc thiếu khâu xử lý sau thu gom.

“Nông dân không tạo ra rác mà chỉ mua các giải pháp để bảo vệ cây trồng. Sự đứt gãy của hệ thống nằm ở việc thiếu khâu xử lý sau thu gom, cùng những khoảng trống tài chính cho việc vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại” - ông Phạm Tuấn Anh khẳng định.

Phát biểu trực tuyến tại diễn đàn, với kinh nghiệm từ quốc tế, ông Andrew Ward - Giám đốc Quản lý sử dụng sản phẩm CropLife cho biết, khi toàn ngành cùng thực hiện, hệ thống sẽ đạt hiệu quả kinh tế theo quy mô, đồng thời tạo nền tảng cho mô hình kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp. Qua đó, hạn chế rủi ro đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng. Theo ông Andrew Ward: “Để triển khai hiệu quả, cần xây dựng cơ chế minh bạch và công bằng, trong đó mọi doanh nghiệp đều phải đóng góp tương ứng với lượng bao bì đưa ra thị trường. Nguồn tài chính từ EPR cần được sử dụng trực tiếp cho hoạt động thu gom và xử lý, đồng thời khuyến khích việc thiết kế bao bì dễ tái chế, giảm tác động môi trường”.

“EPR cần được hiểu là cơ chế trách nhiệm thay vì một nghĩa vụ tài chính đơn thuần. Tôi tin rằng Việt Nam có đủ điều kiện để tiếp cận và điều chỉnh các mô hình này, từng bước xây dựng hệ thống quản lý bao bì thuốc BVTV bền vững, phù hợp với thực tiễn trong nước” - ông Andrew Ward nhấn mạnh.

Được biết, tại Việt Nam, EPR đã được luật hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, tạo cơ sở pháp lý để chuyển đổi từ mô hình quản lý chất thải truyền thống sang mô hình bền vững, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò chủ động và có trách nhiệm hơn trong chuỗi giá trị sau tiêu dùng.

5-1776154722.jpg
Ông Andrew Ward tin rằng Việt Nam có điều kiện để tiếp cận và từng bước xây dựng hệ thống quản lý bao bì thuốc BVTV bền vững.

Sau khi cơ chế EPR được thể chế hóa, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2022/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP) nhằm quy định chi tiết một số điều của Luật và từng bước hướng dẫn triển khai cơ chế EPR trên thực tế. Các văn bản này đã làm rõ nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, đặc biệt là trách nhiệm đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, cũng như thiết lập các nguyên tắc và cơ chế cơ bản để thực hiện EPR.

Tuy nhiên, trong giai đoạn này, các quy định liên quan đến việc quản lý, sử dụng nguồn kinh phí đóng góp và cơ chế hỗ trợ cụ thể cho các hoạt động thu gom, tái chế, xử lý chất thải vẫn chưa được quy định đầy đủ và chi tiết, dẫn đến những hạn chế nhất định trong quá trình triển khai.

Để khắc phục khoảng trống chính sách này, ngày 01/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu. Nghị định này quy định chi tiết Điều 54 về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và Điều 55 về trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu trong Luật Bảo vệ môi trường.

6-1776155591.jpg
Diễn đàn cũng nhận được nhiều ý kiến góp ý để việc quản lý, sử dụng nguồn kinh phí EPR được hiệu quả nhất.

Theo đại diện lãnh đạo Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), việc Chính phủ ban hành Nghị định 110/2026/NĐ-CP đã đánh dấu một bước tiến quan trọng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về EPR. Nghị định này đã cụ thể hóa đầy đủ cơ chế thực hiện trách nhiệm tái chế và xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu, đồng thời thiết lập rõ ràng quy trình quản lý, sử dụng nguồn đóng góp tài chính và cơ chế hỗ trợ cho các hoạt động xử lý chất thải. Qua đó, cơ chế EPR tại Việt Nam đã được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, minh bạch và khả thi hơn, bao quát toàn bộ chu trình từ đóng góp nguồn lực đến phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực đó trong thực tiễn.

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là bao bì thuốc BVTV - một loại chất thải có tính đặc thù nguy hại và khó xử lý - Nghị định này tạo nền tảng quan trọng để xây dựng hệ thống thu gom và xử lý bền vững trên phạm vi toàn quốc.

ANH ĐỨC