
Quan điểm chỉ đạo về phòng chống sa mạc hóa
Chương trình hành động quốc gia được xây dựng trên nền tảng trách nhiệm cao nhất của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế. Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt là việc thực hiện hóa các mục tiêu của Công ước chống sa mạc hóa của Liên hợp quốc (UNCCD) giai đoạn 2018 - 2030. Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định, công tác phòng chống sa mạc hóa phải gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và kế hoạch sử dụng đất quốc gia.
Phòng chống sa mạc hóa được xác định là nhiệm vụ trọng điểm, góp phần trực tiếp vào bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và quản lý bền vững tài nguyên rừng, nguồn nước. Mục tiêu cuối cùng là ổn định và nâng cao đời sống, thu nhập cho người dân, đặc biệt là các cộng đồng tại những khu vực nhạy cảm về sinh thái. Chương trình nhấn mạnh việc kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu phòng chống sa mạc hóa với các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và mục tiêu thiên niên kỷ.
Đáng chú ý, chương trình yêu cầu việc triển khai phải được tiến hành một cách khoa học, hiệu quả dựa trên hệ thống chính sách pháp luật thống nhất. Phương châm là huy động sự quan tâm và góp sức của toàn xã hội, từ các cơ quan Nhà nước đến các đoàn thể chính trị xã hội và người dân tại các vùng bị ảnh hưởng.
Xác định các khái niệm khoa học về sa mạc hóa và thoái hóa đất
Để đảm bảo tính thống nhất trong triển khai, văn bản chỉ đạo đã làm rõ các khái niệm chuyên môn. Theo đó, sa mạc hóa được hiểu là quá trình thoái hóa đất xảy ra tại các vùng khô hạn, bán khô hạn và cận ẩm khô do tác động của biến đổi khí hậu và hoạt động con người.
Chỉ số khô hạn (Aridity Index - AI) được tính bằng tỷ lệ lượng mưa trung bình năm (P) trên lượng bốc hơi tiềm năng (PET). Các vùng có chỉ số AI từ 0,05 đến 0,65 được xếp vào nhóm vùng khô hạn, bán khô hạn và cận ẩm khô. Cụ thể:
• Siêu khô hạn: AI < 0,05.
• Khô hạn: 0,05 ≤ AI < 0,20.
• Bán khô hạn: 0,20 ≤ AI < 0,50.
• Cận ẩm khô: 0,50 ≤ AI < 0,65.
Bên cạnh đó, thoái hóa đất được định nghĩa là sự suy giảm hoặc mất đi năng suất sinh học và khả năng đem lại lợi ích kinh tế của đất, biểu hiện qua xói mòn, suy giảm đặc tính vật lý, hóa học hoặc mất thảm thực vật tự nhiên dài hạn. Việc chống sa mạc hóa sẽ bao gồm các hoạt động tích hợp từ phòng ngừa, giảm thiểu đến phục hồi các khu đất bị thoái hóa ở các mức độ khác nhau.
Mục tiêu cụ thể cho các giai đoạn 2030 và 2050
Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành việc khoanh vùng và định vị các khu vực đất bị sa mạc hóa trên toàn quốc theo mức độ và nguyên nhân. Đồng thời, tăng mật độ các trạm khí tượng thủy văn để phục vụ công tác theo dõi, giám sát và cảnh báo sớm.
Chương trình yêu cầu giữ ổn định 3,5 triệu ha đất trồng lúa; đảm bảo tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42 - 43%. Việc nâng cao chất lượng rừng tự nhiên và hiệu quả của các hệ thống nông lâm kết hợp là giải pháp then chốt để giảm lượng bốc hơi tiềm năng vào mùa khô, bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước.
Tầm nhìn đến năm 2050, mục tiêu đặt ra là tổng diện tích đất bị thoái hóa không vượt quá 40% tổng diện tích đất tự nhiên toàn quốc. Trong đó, diện tích đất bị thoái hóa nặng có nguy cơ sa mạc hóa cao phải được kiểm soát không vượt quá 4,5%. Về mặt xã hội, thu nhập bình quân của người dân tại các vùng bị ảnh hưởng bởi sa mạc hóa phải đạt mức không thấp hơn 50% mức thu nhập bình quân đầu người chung của cả nước.
Phân vùng ưu tiên và các nhiệm vụ trọng tâm
Chương trình hành động quốc gia phân chia nhiệm vụ theo đặc điểm địa lý và sinh thái cụ thể của từng vùng:
1. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc: Tập trung các giải pháp hạn chế xói mòn, rửa trôi và cải thiện độ phì nhiêu. Ưu tiên trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, phát triển kinh tế dưới tán rừng và nông lâm kết hợp với các cây trồng lợi thế như cây ăn quả, chè, cà phê.
2. Vùng Bắc Trung Bộ: Ưu tiên phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống cát bay và xói lở ven biển. Xây dựng các hồ chứa nước thủy lợi phục vụ cấp nước mùa khô và hình thành các vùng trồng cây ăn quả tập trung.
3. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: Chú trọng phục hồi đất bị suy giảm độ phì và đất khô hạn. Thúc đẩy mô hình canh tác tiết kiệm nước và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đối với hoa, rau màu và các cây công nghiệp chủ lực như hồ tiêu, cao su, điều.
4. Vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long: Ưu tiên khắc phục tình trạng mặn hóa và phèn hóa. Giải pháp chính là trồng rừng ven biển, nâng cấp hệ thống đê bao, thủy lợi ngăn mặn và chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại các vùng đất lúa kém chất lượng sang các cây trồng thích ứng với điều kiện khô hạn, nhiễm mặn.
Các nhóm giải pháp thực hiện đồng bộ
Để đạt được các mục tiêu trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề ra 5 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chung: Khoanh vùng và dự báo, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về sa mạc hóa, thoái hóa đất; tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo sớm và theo dõi giám sát từ Trung ương đến địa phương; Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số, nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới trong phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn; phát triển các giống cây trồng chịu hạn, chịu mặn và các quy trình canh tác nông nghiệp xanh, thông minh; Tuyên truyền và Đào tạo, nâng cao nhận thức cộng đồng thông qua các sản phẩm truyền thông; đào tạo tập huấn cho cán bộ và người dân về kỹ thuật phục hồi đất; Hợp tác quốc tế, tăng cường trao đổi thông tin, thiết lập đối tác song phương và đa phương để kêu gọi hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ quốc tế; Ổn định đời sống dân cư, rà soát, bổ sung các chính sách hỗ trợ định canh định cư, hỗ trợ dạy nghề và vay vốn tín dụng ưu đãi cho người dân vùng bị ảnh hưởng.