
Sáng sớm trên đồi chè
Từ 5 giờ sáng, khi sương mù còn bảng lảng trên các đỉnh núi, người dân Đại Từ đã tất bật chuẩn bị dụng cụ lên nương hái chè. Dưới hiên nhà, bà Trần Thị Nhân (60 tuổi) vội buộc chiếc "thạ" bên hông, đội chiếc mũ vải quen thuộc. Với đôi ủng vẫn còn dính bùn đất, bà nhanh bước men theo con đường mòn dẫn lên đồi. Bởi lẽ, thời điểm sáng sớm từ 5-9 giờ là "khung giờ vàng" để thu hoạch chè.
Gắn bó với nghề hơn 50 năm, bà Nhân cũng giống biết bao người phụ nữ tại thủ phủ chè này, nối tiếp nghề của cha ông. “Từ năm 7 tuổi bố mẹ đưa lên đồi tập hái, dần cũng thành thói quen thôi” - bà Nhân cười chia sẻ, đôi tay vẫn thoăn thoắt bắt nhịp giữa những luống chè xanh mướt.

Đôi tay bắt nhịp và nỗi vất vả mưu sinh
Theo kinh nghiệm của người dân Đại Từ, bí quyết nhận biết búp chè đạt chuẩn là dựa vào thời điểm, số lá, độ non của lá. Kỹ thuật hái "một tôm hai lá" (một nõn và hai lá non) hoặc “một tôm một lá” là tiêu chuẩn khắt khe trong sản xuất chè đặc sản. Hái tay giúp búp chè không bị dập nát, nước trà sau khi pha luôn có màu xanh trong đặc trưng.
Bà Nhân chia sẻ thêm: "Bí quyết nhận biết búp chè đạt chuẩn là dựa vào thời điểm, số lá, độ non của lá. Lá mọc đứng, xanh thẫm, bóng mượt là đất còn tốt. Lá vàng, mỏng là lúc nên cho đất nghỉ. Mùa đông đốn chè cho cây nghỉ, mùa xuân đất ấm lên thì cây mới bung ra, lá mới mở, lứa xuân đầu tiên đó là ngon nhất, gọi là lứa mặt.”

Những tri thức không nằm trong sách vở ấy cứ thế truyền nối qua bao thế hệ, trở thành kim chỉ nam cho đôi bàn tay khi bước vào công đoạn quan trọng nhất: thu hoạch. Đây không đơn thuần là thao tác lặp lại, mà là sự giao thoa giữa kỹ năng, cảm giác và trực giác nghề nghiệp.
Chè thường được thu hoạch vào sáng sớm, lúc còn ngậm sương để giữ trọn độ tươi và hương vị tự nhiên. Người thợ chỉ bứt lấy “một tôm hai lá” hoặc “một tôm một lá” – tức là chỉ lấy phần nõn và một hoặc hai lá non ngay phía dưới. Những búp chè chưa đủ độ hay đã quá lứa đều bị bỏ qua để không làm ảnh hưởng đến chất lượng của cả mẻ trà. Dẫu vậy, việc hái chè vốn không có tiêu chuẩn cố định hay công thức tuyệt đối; tất cả dựa vào đôi mắt quan sát nhanh nhạy và sự nhạy cảm tích lũy qua nhiều năm tháng của mỗi người thợ hái.
Những người nông dân miệt mài trên đồi chè từ lúc trời chưa rạng sáng cho đến khi mặt trời đứng bóng. Bà Nguyễn Thị Định (58 tuổi, xã Đại Từ) bộc bạch: "Dù bị bọ mạt bám đầy chân cắn ngứa rát, hay những khi trời trở rét khiến cơn đau lưng, nhức gối thêm tê tái, người thợ vẫn gắng chịu đựng, cặm cụi làm việc chẳng ngơi tay.
Khi xuân sang, lòng người lại canh cánh một nỗi lo bởi những cơn mưa phùn kéo dài. Độ ẩm cao không chỉ ảnh hưởng đến nhịp độ đâm chồi mà còn dễ làm búp trà nhạt hương, kém sắc, gây muôn vàn khó khăn cho việc thu hái và bảo quản. Chính vì thế, năng suất hằng năm thường không ổn định, trực tiếp ảnh hưởng đến thu nhập của người làm chè.
Cuộc sống gắn với cây chè

Đại Từ hiện sở hữu diện tích chè ấn tượng với hơn 6.600 ha, mang lại sản lượng búp tươi đạt hàng chục nghìn tấn mỗi năm, khẳng định vị thế là nguồn thu nhập chủ lực của hàng nghìn hộ dân địa phương. Theo chia sẻ của những người thợ làm chè, giá búp tươi hiện dao động từ 17.000 – 20.000 đồng/kg và thường đạt ngưỡng cao vào chính vụ mùa hè – thời điểm nhu cầu thị trường lẫn áp lực nhân công thu hái cùng gia tăng. Với quy trình chăm sóc khoa học, cây chè có chu kỳ khai thác bền bỉ từ 20-30 năm, cho thu hoạch gần như quanh năm và chỉ tạm "nghỉ" khoảng hai tháng mùa đông để tích lũy nhựa sống cho lứa xuân sau.
Để đảm bảo thu nhập, người thợ luôn tranh thủ từng ngày nắng ráo để thu hái chè; năng suất hái tay có khi đạt trên 10 kg búp tươi mỗi ngày. Công việc này tưởng chừng đơn giản nhưng thực chất là một nghệ thuật đòi hỏi sự khéo léo, tính kiên nhẫn và kinh nghiệm lâu năm. Những người thợ như bà Nhân, dành cả đời âm thầm bên đồi chè, vẫn đang bền bỉ gìn giữ mạch ngầm di sản của cha ông.
Việc duy trì phương thức hái tay thủ công tại Đại Từ hiện nay không chỉ là thói quen mà còn là một chiến lược giá trị cho nông sản xanh. Máy móc có thể hái nhanh hơn, nhưng chỉ có đôi tay của con người mới cảm nhận được độ "chín" của từng búp trà, từ đó tạo nên phân khúc trà cao cấp có giá trị xuất khẩu lớn. Những người lao động như bà Nhân, bà Định đã gắn bó cả đời với đồi chè vẫn âm thầm gìn giữ nghề truyền thống. Dù nắng hay mưa, nhịp sống nơi đây vẫn bền bỉ tiếp diễn. Những đôi tay đi qua hơn ba thập kỷ vẫn tinh tế, vẫn là trái tim của nghề chè ở Đại Từ, đưa hương vị trà Thái Nguyên vươn tầm quốc tế.