Nghiên cứu giải pháp phát triển rong câu ở các tỉnh phía Bắc

(STNN) - Rong câu là nguyên liệu chính cho công nghiệp chiết rút agar, một loại polysaccharide được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp. Ngoài là nguyên liệu chính cho công nghiệp chiết xuất agar, rong câu còn là nguồn thực phẩm hàng ngày được sử dụng như một loại rau (rau câu), chúng được sử dụng để ăn tươi, phơi khô để dành làm nộm (gỏi), nấu chè, thạch hoặc các thực phẩm chế biến khác để ăn quanh năm. Rong câu hiện diện khắp các thủy vực nước mặn, lợ, cửa sông, đầm phá, vũng vịnh, vùng triều ven biển, các kênh rạch, ao đìa nuôi trồng thủy sản, góp phần quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất trong thủy vực.
phat-trien-rong-cau-o-phia-bac-stnn-1779253249.png
 

Ba loài rong câu hiện đang được nuôi trồng phổ biến tại Việt Nam gồm: Rong câu chỉ (Gracilaria tenuistipitata), rong câu thắt (Gracilaria firma) và rong câu cước (Gracilariopsis heteroclada). Hai loài rong câu chỉ và rong câu thắt được nuôi trồng phổ biến ở miền Bắc, còn loài rong câu cước được trồng phổ biến tại miền Trung và Nam Trung Bộ.

Hiện nay, nhu cầu sử dụng agar trong nước và nhu cầu xuất khẩu agar ra các thị trường lớn trên thế giới ngày càng tăng. Tuy nhiên, sản lượng và chất lượng rong câu nguyên liệu tại Việt Nam hiện nay không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất do sản lượng thấp và chất lượng agar có chiều hướng đi xuống, do đó mà nhiều doanh nghiệp sản xuất agar tại Việt Nam phải nhập khẩu rong câu nguyên liệu từ các nước Đông Nam Á như Indonesia, Philippines về để chiết xuất agar phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu của TS. Đỗ Anh Duy tại Viện Nghiên cứu hải sản đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu giải pháp phát triển rong câu ở các tỉnh phía Bắc” từ năm 2021 đến năm 2022.

Đề tài hướng đến thực hiện mục tiêu chọn lọc 1-2 chủng giống rong câu chất lượng tốt; và đề xuất được định hướng và giải pháp phát triển rong câu tại các tỉnh phía Bắc.

Hiện nay, tại các tỉnh phía Bắc, rong câu được nuôi trồng và phát triển tự nhiên chủ yếu trong các ao, đầm nuôi trồng thủy sản với hai loài chính là rong câu chỉ (Gracilaria tenuistipitata) và rong câu thắt (Gracilaria firma). Hình thức nuôi phổ biến là mô hình nuôi trồng đa canh theo hướng quảng canh và quảng canh cải tiến, kết hợp với nuôi các loài thủy sản khác nhằm tận dụng diện tích mặt nước và cải thiện hiệu quả sản xuất. Tổng diện tích nuôi trồng rong câu hiện nay ước đạt khoảng 6.000 ha, trong khi diện tích có tiềm năng phát triển lên tới khoảng 20.000 ha. Sản lượng rong câu nguyên liệu thu hoạch đạt khoảng 6.350 tấn rong khô, tương đương xấp xỉ 40.000 tấn rong tươi mỗi năm. Về chất lượng nguyên liệu, rong câu hiện nay có mức độ lẫn tạp chất còn khá cao, trung bình khoảng 24,8 ± 5,2% khối lượng. Hàm lượng agar trong rong câu nguyên liệu trung bình đạt 18,7 ± 2,3% khối lượng khô; sức đông agar đạt khoảng 243,7 ± 29,6 g/cm² (ở nồng độ NaOH 6%) và nhiệt độ đông agar khoảng 34,5 ± 0,3°C.

Hoạt động chế biến và thương mại rong câu tại khu vực phía Bắc tương đối phát triển nhưng còn phân tán. Giá thu mua rong khô tại hộ dân hiện dao động khoảng 4.000–5.500 đồng/kg, tại các đại lý cấp 1 khoảng 6.000–8.000 đồng/kg và tại các doanh nghiệp chế biến agar ở Hải Phòng khoảng 8.500–10.000 đồng/kg. Hiện có khoảng 40 đại lý, cơ sở thu mua rong câu nguyên liệu tại các tỉnh phía Bắc và khoảng 10 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất agar tập trung chủ yếu tại Hải Phòng. Sản lượng agar sản xuất hàng năm đạt khoảng 1.370–1.760 tấn, trong đó khoảng 55–60% được xuất khẩu, phần còn lại phục vụ nhu cầu trong nước.

Trong công tác chọn giống, hai chủng rong câu chất lượng tốt đã được lựa chọn tại Hải Phòng là HP01 (rong câu thắt Gracilaria firma) và HP03 (rong câu chỉ Gracilaria tenuistipitata). Các chủng này đáp ứng tốt các yêu cầu về cảm quan và chất lượng, với hàm lượng agar trên 25% khối lượng khô và sức đông agar lớn hơn 250 g/cm² (ở nồng độ 1,5%, nhiệt độ 20°C).

Trên cơ sở đánh giá hiện trạng và tiềm năng của rong câu, nhóm nghiên cứu đã đề xuất năm nhóm giải pháp định hướng phát triển rong câu tại các tỉnh phía Bắc, bao gồm: hoàn thiện cơ chế, chính sách và quản lý hành chính; phát triển vùng nuôi trồng tập trung; nâng cao chất lượng giống và kỹ thuật nuôi trồng; đẩy mạnh chế biến và thương mại; đồng thời mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21761/2023) tại Cục Thông tin, Thống kê.