Chuyển trục theo hướng chất lượng cao, phát thải thấp
Cây lúa từ lâu đã được định vị là trụ cột trong cơ cấu nông nghiệp Nghệ An, gánh vác vai trò kép: vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, vừa tạo nền tảng sinh kế bền vững cho hàng vạn hộ nông dân. Với quy mô gieo trồng duy trì gần 170 nghìn ha, việc sản lượng lúa đạt gần 900 nghìn tấn năm 2025 đã khẳng định sức đóng góp then chốt của hạt gạo vào giá trị sản xuất ngành trồng trọt tỉnh nhà.
Những năm gần đây, cùng với quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, sản xuất lúa của Nghệ An đang chứng kiến cuộc chuyển mình mạnh mẽ theo hướng nâng cao năng suất và hiệu quả. Diện mạo mới được định hình thông qua việc ưu tiên các giống lúa mới; thiết lập hệ sinh thái liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, cùng những cải tiến trong quy trình canh tác. Những thay đổi này nằm trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đang được nhiều địa phương triển khai.
Mặc dù sản xuất lúa ở Nghệ An mang nhiều đặc thù về quy mô ruộng đất và điều kiện canh tác, song trước sức ép cạnh tranh khốc liệt của thị trường lúa gạo cùng đòi hỏi ngày càng cao về phát triển bền vững, cách tiếp cận đối với cây lúa đang chứng kiến sự chuyển dịch tất yếu. Điều này đặt ra bài toán cấp thiết về việc xác định một hướng đi phù hợp hơn nhằm nâng cao giá trị nội tại của hạt gạo, thay vì chỉ tập trung vào sản lượng thuần túy.
Mục tiêu phát triển sản xuất lúa gạo hiệu quả, bền vững cũng chính là sự cụ thể hóa định hướng được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Văn kiện quan trọng này xác lập tư duy xuyên suốt về một nền nông nghiệp phát triển theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và thích ứng linh hoạt với biến đổi khí hậu.
Cây lúa vẫn giữ vai trò trụ cột
Dọc theo những cánh đồng trải dài từ dải đất ven biển đến vùng trung du xứ Nghệ, cây lúa vẫn là nguồn sinh kế quan trọng của nhiều hộ nông dân. Không chỉ đảm đương sứ mệnh cung cấp lương thực tại chỗ, sản xuất lúa còn đóng vai trò ổn định đời sống nông thôn và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương.
Những năm qua, ngành nông nghiệp tỉnh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Việc “phủ sóng” các giống lúa có năng suất và chất lượng tốt, cùng lộ trình hình thành các vùng sản xuất tập trung và xây dựng chuỗi giá trị liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp đã tạo ra những giá trị cộng hưởng. Nhờ đó, năng suất và sản lượng lúa của tỉnh cơ bản được duy trì ổn định. Tuy nhiên, trước những làn sóng biến động của thị trường lúa gạo nội địa và quốc tế, tư duy phát triển cây lúa theo hướng tăng sản lượng đơn thuần đang bộc lộ những điểm nghẽn nhất định.
Thực tế cho thấy tại những vùng sản xuất trọng điểm của địa phương, mỗi mùa thu hoạch không chỉ mang về nguồn thu nhập trực tiếp mà còn bảo chứng cho tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Tuy nhiên, một "trụ cột" vững chắc trong kỷ nguyên mới không thể chỉ đứng bằng sức nặng của năng suất thuần túy. Sự xuất hiện của các rào cản về chi phí vật tư, tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu và đòi hỏi khắt khe của người tiêu dùng về nông sản sạch đã đặt ngành lúa gạo trước một yêu cầu mang tính sống còn: Phải "nâng cấp" vai trò trụ cột từ bảo đảm an ninh lương thực sang kiến tạo giá trị kinh tế xanh.
Khi sản lượng không còn là lợi thế
Thực tế, quy mô ruộng đất tại nhiều địa phương của Nghệ An hiện vẫn trong tình trạng nhỏ lẻ, manh mún, trực tiếp tạo nên những rào cản nội tại cho việc tổ chức sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Đặt trong một tương quan so sánh, các vùng lúa trọng điểm của cả nước như Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu lợi thế vượt trội về quỹ đất tập trung, điều kiện tự nhiên và hệ thống thủy lợi đồng bộ, từ lâu đã xác lập vị thế là trung tâm xuất khẩu gạo chủ lực của Việt Nam. Thực tế này buộc các địa phương phải chủ động tái định vị hướng phát triển cây lúa nhằm khớp nối chặt chẽ với Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam đến năm 2030. Trong đó, trọng tâm xuyên suốt là nâng tầm tỷ trọng phân khúc gạo chất lượng cao và kiến tạo sức mạnh thương hiệu gạo Việt trên thị trường quốc tế. Trước thực tế đó, việc dồn lực cạnh tranh về sản lượng hay theo đuổi mô hình xuất khẩu quy mô lớn không phải là hướng đi mang lại lợi thế cho cây lúa Nghệ An. Bài toán đặt ra cho địa phương giờ đây không phải là nỗ lực tăng thêm khối lượng, mà là tìm lời giải để tối ưu hóa giá trị trong từng hạt gạo.
Trao đổi về vấn đề này, bà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An khẳng định: “Nghệ An không xác định phát triển cây lúa theo hướng cạnh tranh sản lượng hay xuất khẩu bằng mọi giá. Dựa trên đặc thù điều kiện sản xuất nội tại, tỉnh tập trung định hướng phát triển lúa chất lượng cao gắn kết chặt chẽ với lộ trình giảm phát thải, qua đó kiến tạo giá trị thặng dư cho hạt gạo và cải thiện thu nhập cho người nông dân”.
Theo bà Võ Thị Nhung, định hướng này không chỉ xuất phát từ đòi hỏi khách quan của thực tiễn sản xuất địa phương, mà còn phù hợp với xu thế phát triển nông nghiệp xanh, bền vững. Đây cũng là hướng đi, là chiến lược mang tính then chốt nhằm hiện thực hóa mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực nông nghiệp mà Việt Nam đã cam kết thực hiện trong các chương trình phát triển nông nghiệp bền vững giai đoạn hiện nay.
Định vị theo hướng chất lượng cao, phát thải thấp
Để thực thi chiến lược đó, nhiều giống lúa chất lượng cao như Thái Xuyên 111, TBR97, TBR225, Bắc Thịnh, Thụy Hương 308, VT404... đã và đang được khuyến khích mở rộng diện tích; đồng thời, tại nhiều xã, các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn đã thành hình, tạo tiền đề để nâng cấp giá trị thương phẩm và xây dựng “căn cước” cho hạt gạo địa phương. Song hành với đó, việc áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến, tiết kiệm nước và tối ưu hóa vật tư đầu vào không chỉ là bài toán giảm chi phí mà còn là giải pháp then chốt để kiểm soát dấu chân carbon trong suốt chu kỳ sinh trưởng của cây lúa.
Tại Hội nghị triển khai Đề án sản xuất trồng trọt vụ Xuân năm 2026, bà Võ Thị Nhung cho biết, Nghệ An hiện là một trong những địa phương tiên phong lựa chọn thí điểm sản xuất lúa giảm phát thải gắn với tạo lập tín chỉ carbon. Riêng trong vụ Xuân năm 2025, các địa phương trong tỉnh đã triển khai sản xuất lúa theo hướng giảm phát thải trên diện tích hơn 18.921 ha. “Kết quả phân tích bước đầu cho thấy, việc áp dụng phương pháp tưới ngập – khô xen kẽ (AWD) không chỉ giúp tối ưu hóa tài nguyên nước mà còn giảm đáng kể lượng phát thải khí mê-tan (CH₄). Cụ thể, mức giảm đạt khoảng 55% đối với lúa cấy và 50% đối với lúa gieo sạ so với phương thức tưới ngập liên tục”, bà Võ Thị Nhung nhấn mạnh về hiệu quả môi trường của mô hình.
Trao đổi với phóng viên, ông Phan Duy An, Phó trưởng Bộ môn Cây lương thực và Cây thực phẩm, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ cho rằng: "Đối với những địa phương không có lợi thế về quy mô sản xuất như Nghệ An, việc chọn "ngách" chất lượng cao và giá trị gia tăng là hướng đi phù hợp. Đây không chỉ là một giải pháp tình thế mà còn là xu thế không thể đảo ngược của nền nông nghiệp hiện đại”.
Định hướng phát triển này cũng phù hợp với chiến lược phát triển nông nghiệp xanh, bền vững của Việt Nam, trong đó giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất nông nghiệp được xem là một trong những mục tiêu quan trọng. “Dự kiến vụ Xuân năm 2026, thí điểm sản xuất lúa giảm phát thải gắn với tạo tín chỉ carbon sẽ tiếp tục mở rộng quy mô lên 24.498,4 ha tại 36 xã trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, ông Phan Duy An cho biết thêm.
Với sự chuyển dịch này, cây lúa ở Nghệ An không chỉ tiếp tục giữ vai trò bảo đảm lương thực mà còn từng bước trở thành sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao hơn, góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững. Định hướng này cũng phù hợp với Quy hoạch tỉnh Nghệ An thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó xác định phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững và nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp chủ lực.
Kỳ 2: Cánh đồng lúa chất lượng cao – nền tảng cho sản xuất phát thải thấp