Tôm hùm lồng bắt đầu được nuôi vào năm 1992 và phát triển mạnh vào năm 2000 ở các tỉnh Nam miền Trung đó là Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Ninh Thuận. Sản lượng tôm hùm lồng gia tăng đáng kể từ năm 2000 đến 2006, đạt gần 1.900 tấn vào năm 2006. Tuy nhiên, cuối năm 2006 bệnh sữa xuất hiện đã làm giảm đáng kể sản lượng tôm hùm thương phẩm, chỉ đạt 1.400 tấn vào năm 2007. Số lượng lồng nuôi năm 2000 có khoảng 17.600 lồng, năm 2006 tăng lên 47.700 lồng, năm 2007 giảm còn 45.800 lồng vì dịch bệnh sữa nhưng đến năm 2008-2009 lại tăng mạnh, đạt gần 60.000 lồng. Trong giai đoạn 2010 - 2019, số lượng lồng nuôi tôm hùm tăng bình quân là 18,2%/năm, sản lượng tăng bình quân là 6,2%/năm. Tôm hùm phân bố từ Quảng Bình tới Bình Thuận nhưng số lượng lồng nuôi và sản lượng lồng nuôi tôm hùm tập trung phát triển chủ yếu ở hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa.

Năm 2019, tổng số lượng lồng nuôi ở hai tỉnh này ước đạt 185.166 lồng, chiếm 97,8% số lượng nuôi tôm hùm Việt Nam; sản lượng đạt 2.273 tấn chiếm 95% sản lượng nuôi cả nước. Nuôi tôm hùm lồng trở thành một nghề chính mang lại thu nhập, giải quyết việc làm cho đông đảo bà con ngư dân vùng ven biển. Tuy nhiên, ngoài việc nguồn tôm giống phụ thuộc hoàn toàn vào đánh bắt tự nhiên thì công đoạn ương nuôi tôm hùm giống còn nhiều bất cập: chất lượng con giống sau khai thác, thức ăn, mật độ, cũng như chế độ quản lý, chăm sóc. Tỷ lệ sống của tôm hùm khi ương chưa cao, không ổn định cũng như sự tiềm ẩn mầm bệnh trong quá trình ương nuôi tôm.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài ThS. Đinh Tấn Thiện cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III thực hiện đề tài “Hoàn thiện quy trình công nghệ ương nuôi tôm hùm (Panulirus ornatus) giống” với mục tiêu nâng cao hiệu quả ương nuôi tôm hùm giống góp phần phát triển bền vững nghề nuôi tôm hùm ở Việt Nam.
Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:
Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ ương nuôi tôm hùm (Panulirus ornatus) giống:
- Tiêu chuẩn tôm hùm giống đưa vào ương nuôi đạt hiệu quả, đó là: tôm không dị hình, đầy đủ phẩn phụ râu và chân. Tôm hùm bò cạp: chiều dài cơ thể khoảng 20- 30 mm, khối lượng đạt 0,5-1 g/con và vỏ màu xanh đen, bóng mượt, tôm khỏe mạnh. Tôm hùm trắng: chiều dài cơ thể 12-15 mm, khối lượng 0,25-0,3 g/con, cơ thể có màu trắng, sáng bóng và khỏe mạnh: tôm bơi, bò bình thường sau 10 phút gây sốc ở nhiệt độ 150C hay ở độ mặn 20‰.
- Bổ sung Bio-Mos, All-Tech, USA vào thức ăn tươi hằng ngày với hàm lượng 0,4% trong vòng 1 giờ và được trộn với dầu mực trước khi cho ăn giúp tôm ương đạt tỷ lệ sống ổn định > 90 %, tăng trưởng nhanh và phòng ngừa dịch bệnh.
- Trong quá trình ương nuôi tôm hùm giống từ tôm trắng lên cỡ giống 15-20 g/con, thay lồng cứ sau 15 và 20 ngày nuôi mang lại hiệu quả nhất. Tôm trắng thả nuôi ở mật độ 140-160 con/ m3 lồng thì nên thay lồng ương nuôi sau khoảng 20 ngày ương nuôi khi đó tôm ương đã sau vài ngày kể từ khi lột vỏ lần thứ 2 - đủ lớn và khỏe mạnh cho việc san thưa lồng. Với tôm hùm giống cỡ khoảng 1-8 g/con thì mật độ ương nuôi là 120-100 con/m3 lồng nuôi. Với tôm hùm giống cỡ khoảng 8- 15 g/con thì mật độ ương nuôi là 80-60 con/m3 lồng nuôi. Mật độ ương nuôi với tôm hùm giống cỡ 15-20 g/con là 60 con/m3 lồng nuôi.
- Quy trình công nghệ ương tôm hùm (Panulirus ornatus) giống (đính kèm Báo cáo tổng kết) được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu của dự án này với các thông số kỹ thuật chính gồm con giống, thức ăn, quản lý lồng nuôi và mật độ.
Đào tạo, tập huấn công nghệ ương nuôi tôm hùm (Panulirus ornatus) giống.
- Mô hình công nghệ ương tôm hùm (Panulirus ornatus) giống đạt tỷ lệ sống ổn định > 90% với quy mô 5 lồng nuôi 1m3 (0,7mx1,2mx12m) với 144 tôm hùm trắng/lồng đạt tỷ lệ sống >90% và khối lượng đạt 15-20 g/con.
- Đã có 60 học viên của 40 cơ sở ương nuôi ở Xuân Phương, Sông Cầu, Phú Yên và 20 cơ sở ương nuôi ở An Chấn, Tuy An, Phú Yên được đào tạo, tập huấn về Quy trình công nghệ ương nuôi tôm hùm (Panulirus ornatus) giống.
- Chất lượng tôm hùm giống là sản phẩm của quy trình công nghệ của dự án: Sau 360 ngày nuôi, tôm thương phẩm đạt tỷ lệ sống 84,67 %, khối lượng trung bình đạt 698,99 g/con. Hiệu quả làm lợi tính bằng tiền là 27,75%, trong khi sản phẩm cùng loại của hộ dân là 12,45%.
Phát triển mô hình ương tôm hùm (Panulirus ornatus) giống đạt tỷ lệ sống ổn định > 90 %
- 21.371 tôm giống đã được sản xuất ra bởi 32 cơ sở ương nuôi tôm hùm giống ở 2 địa điểm Dân Phú 1, Xuân Phương, Sông Cầu và Mỹ Quang Bắc, An Chấn, Tuy An, thuộc tỉnh Phú Yên: tỷ lệ sống 92,76±0,56%, tăng trưởng khối lượng đạt 17,28±0,24 g/con, hệ số thức ăn là 9,07 và hiệu quả chuyển đổi thức ăn là 11,03 %. Lợi nhuận của quy trình công nghệ được tạo ra là 27,62%, trong khi 3,18% và 10,06% là lợi nhuận nuôi tôm hùm ở Khánh Hòa và Phú Yên.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21654/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.