Thiết lập hành lang pháp lý bảo tồn loài nguy cấp, quý, hiếm

(STNN) - Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. Đây là văn bản quan trọng nhằm cụ thể hóa các quy định của pháp luật về lâm nghiệp, thủy sản và đa dạng sinh học trong tình hình mới.

Phạm vi điều chỉnh và phân loại các loài ưu tiên bảo vệ

sao-la-stnn-1768357600.jpg
Khu Dự trữ thiên nhiên Sao La, Thành phố Huế.

Thông tư này quy định chi tiết một số điều của Luật Lâm nghiệp, Luật Đa dạng sinh học, Luật Thủy sản về quản lý loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; nuôi, cứu hộ, tái thả loài động vật rừng thông thường; thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (sau đây gọi là CITES). Thông tư này không quy định chế độ quản lý đối với giống vật nuôi, giống cây trồng nguy cấp, quý, hiếm và loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm không thuộc Phụ lục CITES.

Để thực hiện quản lý hiệu quả, Thông tư đã đưa ra các tiêu chí phân loại cụ thể tại Điều 4. Theo đó, loài nguy cấp, quý, hiếm gồm Nhóm I và Nhóm II:

Nhóm I bao gồm những loài nghiêm cấm khai thác và sử dụng mẫu vật khai thác từ tự nhiên tại Việt Nam vì mục đích thương mại, bao gồm: Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA: thực vật rừng, Nhóm IB: động vật rừng.

Nhóm II bao gồm những loài hạn chế khai thác và sử dụng mẫu vật khai thác từ tự nhiên tại Việt Nam vì mục đích thương mại, bao gồm: Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA: thực vật rừng, Nhóm IIB: động vật rừng.

Tiêu chí xác định loài nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I được quy định rõ: Là loài nguy cấp, quý, hiếm thuộc Phụ lục I CITES phân bố tự nhiên tại Việt Nam hoặc được Cơ quan khoa học CITES Việt Nam đánh giá trên cơ sở tiêu chí của IUCN hoặc Sách Đỏ Việt Nam từ bậc đe dọa nguy cấp (EN) đến cực kỳ nguy cấp (CR). Đồng thời, đây là loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, trừ trường hợp đặc biệt, phải đáp ứng tiêu chí là loài đặc hữu hoặc có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường, văn hóa - lịch sử.

Đối với giống cây trồng, giống vật nuôi nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, Thông tư quy định tiêu chí dựa trên hệ số đa dạng nguồn gen của giống thấp hơn 0,25; tỷ lệ hộ nuôi, trồng dưới 10% tổng số hộ nuôi, trồng tại nơi xuất xứ; diện tích trồng dưới các mức quy định cụ thể cho từng nhóm cây lương thực, công nghiệp, rau hoa; hoặc số lượng cá thể giống vật nuôi còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng theo định mức con số cụ thể.

Đối với nấm và vi sinh vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ: có số lượng còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng khi loài bị suy giảm quần thể ít nhất 50% trong thời gian 10 năm tính tới thời điểm đánh giá và đang sống trong môi trường bị hủy hoại nghiêm trọng.

Nguyên tắc khai thác mẫu vật và các biện pháp bảo tồn bền vững

vuon-quoc-gia-cat-tien-stnn-1768357626.jpg
Bàu Sấu nằm trong vùng lõi của Vườn Quốc gia Cát Tiên, nơi sống của rất nhiều loài động thực vật có tên trong Sách Đỏ của Việt Nam và thế giới.

Nhằm đảm bảo sự cân bằng sinh thái, Điều 6 của Thông tư đã xác lập các nguyên tắc cốt lõi trong bảo tồn và bảo vệ. Theo đó, hoạt động khai thác, nuôi, trồng, chế biến, kinh doanh, vận chuyển, lưu giữ, quảng cáo, trưng bày, trao đổi, tặng cho, xuất khẩu, nhập khẩu mẫu vật các loài nguy cấp, quý, hiếm không được ảnh hưởng tiêu cực đến sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển của loài đó trong tự nhiên và phải được quản lý, đảm bảo nguồn gốc hợp pháp.

Đặc biệt, hoạt động nuôi sinh sản, xuất khẩu loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ phục vụ mục đích thương mại chỉ được thực hiện đối với cá thể từ thế hệ F2 của loài được Cơ quan khoa học CITES Việt Nam xác định về khả năng sinh sản qua nhiều thế hệ trong môi trường có kiểm soát và không ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của loài đó trong tự nhiên. Các hoạt động điều tra, thăm dò, nghiên cứu, khai thác, tham quan, du lịch có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến nơi sinh sống, đường di chuyển, nơi kiếm ăn của loài nguy cấp, quý, hiếm cần phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu, bảo đảm không gây ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của loài đó trong tự nhiên.

Về phương thức khai thác, Thông tư nghiêm cấm sử dụng công cụ, phương tiện mang tính tận diệt, hủy diệt như: các loại vũ khí, tên tẩm thuốc độc, chất nổ, chất độc, đào hầm, hố, cắm chông, bẫy kiềng lớn, bẫy cắm chông, bẫy gài lao, bẫy điện, bẫy sập, bẫy lưới, bẫy lồng, bẫy keo, ná cao su, khúc gỗ lớn, răng sắt lớn, thiết bị phát tiếng kêu động vật để khai thác mẫu vật từ tự nhiên loài nguy cấp, quý, hiếm. Quy định này chỉ ngoại trừ một số trường hợp khai thác phục vụ nghiên cứu khoa học, đối ngoại và bảo tồn khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Song song với các nguyên tắc quản lý, các biện pháp bảo tồn cũng được triển khai đồng bộ. Loài nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I sinh sống tự nhiên được bảo tồn tại chỗ thông qua việc thành lập khu bảo tồn thiên nhiên hoặc thực hiện các biện pháp bảo vệ nơi sinh sống, nơi di trú. Các loài này cũng có thể được bảo tồn chuyển chỗ thông qua các hoạt động: cứu hộ, nuôi, trồng cấy nhân tạo, lưu giữ, bảo quản nguồn gen, mẫu vật để hỗ trợ cho công tác phục hồi quần thể loài ngoài tự nhiên; thả lại, chuyển vị bảo tồn để bảo vệ, phục hồi loài tại nơi sinh sống tự nhiên của chúng.
Điều 10 của Thông tư bổ sung chi tiết về việc khai thác mẫu vật từ tự nhiên, quy định rằng việc khai thác chỉ thực hiện trong các trường hợp: Phục vụ các dự án, đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh; phục vụ công tác đối ngoại theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; hoặc khai thác tận dụng, tận thu được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Hoạt động này phải có phương án khai thác được Cơ quan khoa học CITES Việt Nam xác nhận không ảnh hưởng đến sự tồn tại của loài, địa điểm và thời điểm khai thác không ảnh hưởng tới việc sinh sản, di cư, đồng thời số lượng khai thác phải ở mức tối thiểu.

Quy trình ứng phó và xử lý xung đột động vật hoang dã

nội dung quan trọng khác của hành lang pháp lý này là quy định tại Điều 9 về xử lý trường hợp động vật nguy cấp, quý, hiếm xâm hại hoặc đe dọa tính mạng, tài sản của con người. Quy trình này được thiết lập để vừa bảo vệ tính mạng người dân, vừa giảm thiểu thiệt hại cho các loài quý hiếm.

Theo đó, trong mọi trường hợp động vật nguy cấp, quý, hiếm đe dọa xâm hại tài sản hoặc tính mạng của con người, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xua đuổi, hạn chế gây tổn thương đến động vật, đồng thời thông tin ngay đến Sở Nông nghiệp và Môi trường hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã gần nhất.

Trường hợp động vật nguy cấp, quý, hiếm trực tiếp tấn công con người ở ngoài các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên sau khi đã áp dụng các biện pháp xua đuổi nhưng không hiệu quả, Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định và trực tiếp chỉ đạo tổ chức việc bắt giữ động vật đó. Trong tình huống xấu nhất, khi động vật tấn công gây nguy hiểm đến tính mạng con người mà không có khả năng ngăn chặn, xua đuổi, bắt giữ thì được phép áp dụng biện pháp phòng vệ và báo cáo kịp thời cơ quan quản lý chuyên ngành tại địa phương.

Ngoài ra, công tác cứu hộ động vật cũng được quy định chặt chẽ tại Điều 15. Động vật còn sống bị mất nơi sinh sống tự nhiên, bị lạc, bị thương, bị bệnh được cứu hộ tại cơ sở nuôi, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học được cơ quan có thẩm quyền cấp phép. Quy trình thực hiện bao gồm: Tổ chức, cá nhân phát hiện phải thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã; trong thời hạn 01 ngày làm việc, Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức kiểm tra, tiếp nhận và lập Biên bản giao nhận; đồng thời thông báo công khai để xác minh chủ sở hữu trong thời hạn 05 ngày làm việc.

Sau khi cứu hộ, việc xử lý động vật được thực hiện theo các hình thức: Thả lại môi trường tự nhiên nếu đủ điều kiện; chuyển giao cho cơ sở nuôi, cơ sở bảo tồn để chăm sóc, nghiên cứu hoặc giáo dục môi trường; hoặc chuyển giao cho tổ chức nghiên cứu, đào tạo khi được Sở Nông nghiệp và Môi trường chấp thuận. Các quy định này tạo nên một chu trình khép kín, đảm bảo mọi tình huống xung đột hay sự cố liên quan đến loài nguy cấp đều có phương án giải quyết dựa trên pháp luật.

Thông tư 85/2025/TT-BNNMT chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026, thay thế các quy định cũ và tạo lập một hành lang pháp lý vững chắc cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam.

LÊ KHÁNH