Giải pháp nào cho nhu cầu nước ngọt của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long?

STNN – Những năm gần đây, có nhiều dấu hiệu cho thấy nguồn nước, chất lượng nước ở Đồng bằng sông Cửu Long đang bị suy thoái khi có những thay đổi của dòng chảy theo mùa. Một số chuyên gia đề xuất giải pháp xây dựng hồ chứa nước ngọt để cung cấp cho toàn khu vực nhằm khắc phục vấn đề này.

Nguồn nước bị “suy thoái”

Ngày 30/6/2024 tại TP.HCM, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM đã phối hợp với Hội Khoa học kinh tế và quản lý tổ chức Hội thảo Nước ngọt cho Đồng bằng sông Cửu Long. Hội thảo đã thu hút gần 100 nhà khoa học, chuyên gia môi trường quan tâm tham dự với mong muốn có những đóng góp hữu ích cho nhu cầu bức xúc, thiết thực về nước ngọt tại khu vực này.

Trình bày tại hội thảo, Tiến sĩ Võ Văn Hải – Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ miền Nam (Trường Bồi dưỡng cán bộ Tài chính – Bộ Tài chính) cho biết, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một bộ phận của châu thổ sông Mekong thuộc Việt Nam có diện tích 3,9 triệu ha (4 triệu ha). ĐBSCL có vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, là chìa khóa chính trong chiến lược an ninh lương thực Quốc gia. Với tiềm năng nông nghiệp và thủy sản to lớn, trong những năm qua, ĐBSCL luôn đóng góp khoảng 53% tổng sản lượng lương thực, 65% tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng và 70% trái cây của cả nước. Tuy nhiên, ĐBSCL cũng luôn khan hiếm nguồn nước ngọt.

Bên cạnh đó, các đánh giá và dự báo thiếu nguồn nước ngọt ở ĐBSCL là vấn đề tiên quyết, cần được xác định trong quy hoạch xây dựng các công trình thủy lợi, nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước, phục vụ phát triển bền vững cho ĐBSCL. Nhưng cho đến nay những nghiên cứu về vấn đề này chưa tổng thể, chưa thuyết phục và chưa có dự án nào giải quyết “nạn thiếu nước xâm nhập mặn” như mong đợi của người dân ĐBSCL cũng như chính quyền các cấp.

Giải pháp nào cho nhu cầu nước ngọt của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long?
Ngày 30/6/2024, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM đã phối hợp với Hội Khoa học kinh tế và quản lý đã tổ chức Hội thảo Nước ngọt cho Đồng bằng sông Cửu Long.

Mặt khác, chế độ thủy văn ở ĐBSCL chịu sự tác động trực tiếp của dòng chảy thượng nguồn, chế độ triều biển Đông, biển Tây và các chế độ mưa trên đồng bằng. Vùng ĐBSCL phụ thuộc vào hơn 80% tổng lượng nước ngọt hàng năm từ thượng nguồn sông Mekong đổ về. Những năm gần đây, có nhiều dấu hiệu cho thấy chất lượng nước ở ĐBSCL đang bị suy thoái khi có những thay đổi của dòng chảy theo mùa. Sự suy thoái này có thể do các yếu tố tự nhiên hoặc các yếu tố con người, hoặc cả 2 yếu tố này cùng tác động.

Ngoài ra, chất lượng nước của thượng nguồn sông Mekong có chất lượng tốt nhưng giá trị ô nhiễm có xu hướng gia tăng từ năm 2000 đến nay, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt do phát triển nội tại, sự phát triển kinh tế và động lực nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế kéo theo áp lực lên nền sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản ở khu vực gia tăng nước thải trong quá trình sản xuất chưa qua xử lý dẫn đến chưa đạt chuẩn cho phép cũng được thải ra các sông, rạch.

ĐBSCL đang đối mặt với hạn chế nguồn nước do các đập thủy điện ở thượng nguồn, kéo theo đó là ô nhiễm nguồn nước ngày một gia tăng và biến đổi khí hậu ngày một khốc liệt (nước biển dâng, nhánh sông lớn bị nước biển xâm nhập mặn) gây tổn hại nghiêm trọng đến nông nghiệp và tác động xấu đến môi trường.

Cụ thể, theo thống kê, thượng nguồn sông Mekong dự kiến có 467 đập thủy điện, trong đó khoảng 1/4 đang trong quá trình xây dựng hoặc dự kiến xây dựng, gia tăng nguy cơ thiếu nước, hạn, mặn, sạt lở và xói mòn ở hạ lưu.

Cùng với đó, theo tính toán thì nhu cầu nước ngọt ở ĐBSCL rất lớn. Theo đó, nhu cầu sử dụng nước trên vùng ĐBSCL hàng năm hiện vào khoảng 22,8 tỷ m3. Trong đó, thiếu hụt nước ngọt vào mùa khô ở ĐBSCL hiện trạng vào khoảng 4,2 tỷ m3 hàng năm, dự báo lên đến 4,8 tỷ m3 vào năm 2030 và 5 tỷ m3 vào năm 2050.

Từ kết quả của các tài liệu tham khảo cũng như tính toán của nhóm nhà khoa học, dễ dàng thấy được vấn đề thiếu nước ngọt ở ĐBSCL ngày một gia tăng, xâm nhập mặn ngày càng khốc liệt, tất cả xuất phát từ sự khai thác ở thượng nguồn sông Mekong một cách thái quá, mà hậu quả là ĐBSCL gánh chịu nặng nề.

Xây hồ chứa nước ngọt là giải pháp hữu hiệu

Từ thực tế này, Tiến sĩ Võ Văn Hải cũng đã trình bày Dự án Nước ngọt cho ĐBSCL tại Hội thảo. Theo đó, Dự án này do Tiến sĩ Võ Văn Hải làm chủ nhiệm và Tiến sĩ Nguyễn Phạm Hải, Tiến sĩ Mai Bình Dương, Lê Thùy Hương, Đặng Phạm Thanh Tùng là các thanh viên cùng nghiên cứu thực hiện.

Theo nhóm nghiên cứu, bên cạnh hệ thống thủy điện công suất lớn của Trung Quốc, Lào ở vùng đầu nguồn, các quốc gia vùng hạ lưu như Thái Lan, Campuchia cũng đang đẩy mạnh việc xây dựng các công trình chuyển nước từ dòng Mekong nhằm phục vụ cho việc mở rộng canh tác nông nghiệp.

Cụ thể, qua thu thập số liệu từ nhiều nguồn và qua tác giả tính toán, với 127 công trình thủy điện (tính đến năm 2022) ở lưu vực sông Mekong (cả dòng chính và nhánh sông), để các nhà máy hoạt động thì cần 22,7 tỉ m3 nước, để hoạt động hiệu quả là 83,82 tỉ m3 nước và đạt đỉnh là 144,83 tỉ m3 nước. Trong khi tổng lưu lượng của sông Mekong một năm là 475 tỉ m3 nước. Do đó, từ khi các nhà máy thủy điện ở lưu vực sông Mekong đi vào hoạt động đến nay (tính từ 2015 – 2023) ĐBSCL không còn mùa lũ (mùa nước nổi), mà sự thiếu nước ngọt trầm trọng, xâm nhập mặn vào sâu ở các sông và nội đồng.

Giải pháp nào cho nhu cầu nước ngọt của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long?
Tiến sĩ Võ Văn Hải trình bày Dự án Nước ngọt cho Đồng bằng sông Cửu Long tại Hội thảo.

Ngoài tác động từ thủy điện, ĐBSCL còn chịu sự tác động từ việc chuyển nước của Thái Lan và Campuchia. Trong khi Việt Nam cơ bản giữ nguyên diện tích đất nông nghiệp thì Thái Lan và Campuchia đều có kế hoạch mở rộng, đi kèm với đó là các kế hoạch chuyển nước trên quy mô lớn.

Dự án Mekong – Huai Luang – Nong Han – Lam pao cũng được Thái Lan thông qua vào đầu năm 2016. Dự án xây dựng 30 hồ chứa gần hợp lưu các sông nhánh với sông Mekong để chuyển nước sông Mekong vào trữ tại các hồ chứa. Trên thực tế, dự án này đã triển khai giai đoạn 1 bằng việc xây hồ chứa Nong Han với diện tích 45 km2, lượng nước hàng năm vào ra là 2,8 tỉ m3. Hiện Thái Lan có kế hoạch triển khai 990 dự án nữa ở vùng Đông Bắc, chủ yếu là chuyển nước từ sông Mekong.

Trong khi đó, Campuchia cũng đang tích cực hợp tác với nước ngoài, đặc biệt là với các nhà đầu tư Trung Quốc để xây dựng các công trình chuyển nước phục vụ nông nghiệp. Điển hình là dự án tưới VAICO do nhà đầu tư Trung Quốc thực hiện với mục đích chuyển nước từ sông Mekong qua sông Sandei (nhánh sông Mekong) vào trữ tại hồ Krapik dung tích 1 tỷ m3, để dẫn nước tưới cho vùng trồng lúa ở Kampongchang, Preyvong và PrayRieng. Dự án có tổng kinh phí là 200 triệu USD (đợt I).

Từ những thông tin trên, cũng như các số liệu được các chuyên gia cũng như tác giả đã tính toán, nhóm nghiên cứu đã đề xuất giải pháp thích hợp là “Xây dựng hồ chứa nước cho ĐBSCL” nhằm giải quyết được nhu cầu nước ngọt hàng năm ở ĐBSCL và con số thực tế cần đáp ứng tối thiểu để ĐBSCL phát triển bền vững và giúp người dân đồng bằng giảm đi cơn khát.

Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất 2 vị trí để “Xây dựng hồ chứa nước cho ĐBSCL”. Vị trí 1 là tại Vườn quốc gia Tràm Chim thuộc huyện Tam Nông (tỉnh Đồng Tháp) nơi được mệnh danh là túi nước khổng lồ của ĐBSCL trước đây. Nếu xây dựng hồ chứa nước tại đây, sẽ rất thuận lợi cho việc điều tiết dòng chảy mùa kiệt, cung cấp nước cho các tỉnh Long An – Tiền Giang – Vĩnh Long – Bến Tre rất thuận lợi, thông qua các hệ thống kênh liên tỉnh, trong đó Vườn quốc gia Tràm Chim đấu nối với các kênh Hồng Ngự – Long An, An Hòa, Đồng Tiến, Phú Hiệp… với điều kiện tối ưu như thế chúng ta sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí xây dựng Công trình Hồ chứa nước. Đồng thời việc mở rộng diện tích trong khu vực 5 xã vùng đệm, cũng thuận lợi với mật độ dân cư thấp, 281 người/km², chi phí đền bù giải tỏa, tái định cư, không quá cao.

Vị trí thứ 2 là xây dựng hồ chứa nước tại khu vực Lung Ngọc Hoàng (huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang). Vị trí này rất thuận lợi cho việc chứa nước và điều tiết nước cho các tỉnh Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau và một phần Kiên Giang – Cần Thơ. Thông qua các kênh chính – Quản Lộ – Phụng Hiệp, kênh Lái Hiếu, sông Cái Lớn và rất nhiều hệ thống kênh rạch khác. Chỉ cần nạo vét và mở rộng một số kênh rạch để dòng chảy thuận lợi trong việc trữ nước mùa lũ điều tiết nước trong mùa kiệt.

Ngoài ra, việc xây dựng hồ chứa nước tại Lung Ngọc Hoàng, còn bảo vệ cho khu bảo tồn cảnh quan thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, và là nơi sinh sản, dự trữ thủy sản cho ĐBSCL. Nơi đây có diện tích đất vùng đệm 8.836 ha, nếu chúng ta mở rộng thêm diện tích để đạt được dung tích Hồ chứa 500 triệu – 1 tỷ m3 nước cũng rất khả thi, vì dân cư ở đây rất thưa thớt (241 người/km2 – 284 người/km2), chi phí đền bù giải tỏa, tái định cư cũng không quá cao và chi phí xây dựng hồ chứa nước cũng tiết, giảm đáng kể vì đây là túi nước của vùng Tây sông Hậu.

Tại Hội thảo, Tiến sĩ Vũ Văn Hải cũng trình bày các phương án xây dựng 2 hồ nước ngọt cho vùng ĐBSCL. Đồng thời, ông Hải cũng nêu ra các ưu điểm, nhược điểm của các phương án và đề xuất nên chọn phương án 1 với phương châm “gian nan một lần, nhàn nhã trăm năm” có chi phí khoảng 130 nghìn tỷ đồng.

Cũng theo Tiến sĩ Võ Văn Hải, ĐBSCL ở cuối nguồn dòng Mekong, nên cần phải xây dựng những hồ chứa nước ngọt đủ lớn, để điều tiết lưu lượng nước ngọt đáp ứng được nhu cầu cho toàn vùng, chứ không phải xây dựng những hồ chứa nước nhỏ tràn lan như hiện nay, vừa tốn kém ngân sách đất đai nhưng hiệu quả không cao; đồng thời hy vọng “Dự án xây dựng hồ chứa nước ngọt cho ĐBSCL” sẽ được các nhà khoa học, quan tâm góp ý để dự án có thể trở thành một kênh tham khảo hữu ích của các cấp chính quyền.

Anh Đức

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây