Giữa những dãy núi trùng điệp phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa, Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Hu không chỉ có giá trị đặc biệt về bảo tồn đa dạng sinh học mà còn gắn bó mật thiết với đời sống của cộng đồng dân cư vùng đệm. Những năm qua, từ nguồn thu của Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ, nhiều cộng đồng đã được hỗ trợ phát triển sinh kế và đầu tư các công trình thiết yếu phục vụ sản xuất, đời sống. Qua đó, những giá trị mà rừng mang lại từng bước được chuyển hóa thành lợi ích cụ thể cho người dân, góp phần tạo động lực để cộng đồng cùng chung tay bảo vệ rừng.
Rừng Pù Hu – nền tảng của sinh kế cộng đồng
Khu BTTN Pù Hu nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm tỉnh khoảng 135 km, với tổng diện tích 28.476,42 ha, phân bố trên địa bàn 8 xã. Đây là khu vực có địa hình núi cao, bị chia cắt mạnh, hệ thống sông, suối phong phú và diện tích rừng tự nhiên lớn.
Trong tổng diện tích được giao quản lý, đất lâm nghiệp chiếm 28.379,83 ha, tương đương 99,7%; trong đó rừng đặc dụng 24.200,87 ha và rừng sản xuất 4.178,96 ha. Rừng tự nhiên có diện tích 27.254,98 ha, chiếm phần lớn diện tích rừng và đất rừng.
Những cánh rừng Pù Hu có vai trò quan trọng trong bảo vệ nguồn nước, đất đai, điều hòa khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học và hấp thụ, lưu giữ carbon. Đồng thời, rừng và đất rừng cũng có mối quan hệ trực tiếp với sinh kế của người dân sống ở vùng đệm.
Để nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng, Ban quản lý Khu BTTN Pù Hu đã thực hiện giao khoán bảo vệ hơn 25.964 ha rừng đặc dụng và rừng sản xuất tự nhiên cho các cộng đồng và cá nhân. Trong đó có 45 cộng đồng thôn và 8 cá nhân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng.
Việc gắn trách nhiệm bảo vệ rừng với lợi ích của cộng đồng ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên rừng tại Pù Hu.

Nguồn lực từ giảm phát thải đến với cộng đồng
Thông qua nguồn thu từ Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA), các cộng đồng dân cư vùng đệm Khu BTTN Pù Hu đã từng bước được hỗ trợ phát triển sinh kế và cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống.
Trong 3 năm, nguồn lực đã được triển khai hỗ trợ cho nhiều cộng đồng trên địa bàn. Năm 2024 có 48 cộng đồng được hỗ trợ; năm 2025 có 38 cộng đồng được hỗ trợ và năm 2026 có 14 cộng đồng được hỗ trợ.
Điểm đáng chú ý là các nội dung hỗ trợ không chỉ tập trung vào một hình thức mà được xây dựng phù hợp với nhu cầu thực tế của từng cộng đồng, hướng đến mục tiêu giúp người dân có thêm điều kiện phát triển sản xuất và từng bước cải thiện đời sống.
Trong đó, nhóm nội dung quan trọng là hỗ trợ các hoạt động khuyến lâm, khuyến nông thông qua giống cây trồng, vật nuôi. Đây là những hỗ trợ trực tiếp, thiết thực đối với người dân vùng đệm, giúp các hộ có thêm tư liệu sản xuất, đa dạng hóa nguồn thu và từng bước hình thành những mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương.
Việc hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi không chỉ mang lại lợi ích trong một vụ sản xuất mà còn tạo tiền đề để người dân tiếp tục nhân rộng, tái đầu tư và duy trì mô hình trong những năm tiếp theo. Đây chính là điểm khác biệt quan trọng của các chương trình hỗ trợ sinh kế: từ nguồn hỗ trợ ban đầu, người dân có thể chủ động tạo ra sản phẩm, thu nhập và từng bước nâng cao khả năng tự chủ về sinh kế.
Từ con giống, cây giống đến sinh kế bền vững
Đối với người dân vùng đệm, một trong những khó khăn lớn là thiếu vốn và tư liệu sản xuất để phát triển các mô hình kinh tế phù hợp. Chính vì vậy, việc hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi từ nguồn thu giảm phát thải có ý nghĩa thiết thực.
Các mô hình khuyến nông, khuyến lâm giúp người dân có thêm lựa chọn trong phát triển sản xuất, giảm sự phụ thuộc vào một nguồn thu duy nhất. Tùy điều kiện từng địa bàn, cây trồng và vật nuôi được lựa chọn có thể gắn với điều kiện đất đai, khí hậu, tập quán sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm của người dân.
Điều quan trọng hơn cả là quá trình triển khai các mô hình sinh kế góp phần thay đổi cách tiếp cận của người dân đối với nguồn lực từ rừng. Thay vì chỉ khai thác trực tiếp các sản phẩm từ rừng, người dân có thêm điều kiện phát triển các hoạt động sản xuất hợp pháp, tạo thu nhập ngay tại cộng đồng.
Khi sinh kế được cải thiện, áp lực lên tài nguyên rừng cũng có điều kiện giảm xuống. Người dân có thêm nguồn thu từ sản xuất sẽ giảm sự phụ thuộc vào việc khai thác lâm sản trái phép, đồng thời có thêm động lực tham gia bảo vệ diện tích rừng được giao khoán.
Đây chính là giá trị lâu dài mà các mô hình sinh kế mang lại: không chỉ hỗ trợ sản xuất mà còn góp phần tạo ra sự gắn kết giữa sinh kế của người dân và nhiệm vụ bảo vệ rừng.

Không chỉ hỗ trợ sinh kế, mà còn đầu tư cho sản xuất và đời sống
Bên cạnh hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, nguồn lực còn được sử dụng để hỗ trợ vật liệu xây dựng sửa chữa kênh mương nội đồng và đường giao thông nông thôn.
Đây là những công trình có tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất của cộng đồng. Kênh mương được sửa chữa giúp bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp; đường giao thông được cải thiện giúp người dân thuận lợi hơn trong đi lại, vận chuyển vật tư nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm.

Nguồn lực cũng được sử dụng để hỗ trợ vật liệu xây dựng sửa chữa các công trình nước sạch, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt của người dân. Đối với những khu vực miền núi, nơi cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn, việc duy trì các công trình cấp nước có ý nghĩa thiết thực đối với sức khỏe và chất lượng cuộc sống của cộng đồng.

Bên cạnh đó, việc hỗ trợ vật liệu xây dựng để sửa chữa nhà văn hóa góp phần duy trì không gian sinh hoạt chung của cộng đồng. Đây không chỉ là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, hội họp mà còn có thể trở thành địa điểm để tuyên truyền chính sách, phổ biến kiến thức về bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và nâng cao nhận thức của người dân về bảo tồn thiên nhiên.

Như vậy, nguồn lực từ thỏa thuận chi trả giảm phát thải đã được sử dụng theo hướng vừa hỗ trợ sinh kế trực tiếp, vừa cải thiện điều kiện sản xuất và đời sống, tạo nền tảng để cộng đồng phát triển ổn định hơn
Sinh kế ổn định – người dân thêm động lực giữ rừng
Đối với Khu BTTN Pù Hu, bảo vệ rừng không thể tách rời khỏi việc bảo đảm sinh kế cho cộng đồng dân cư sống xung quanh rừng.
Một mô hình sinh kế chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi người dân có khả năng duy trì sau khi kết thúc hỗ trợ. Vì vậy, việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, theo dõi quá trình thực hiện và khuyến khích người dân chủ động tái đầu tư là những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả của nguồn lực hỗ trợ.
Từ những cây giống, con giống ban đầu, nếu được tổ chức sản xuất phù hợp, người dân có thể tạo ra sản phẩm, có thêm thu nhập và từng bước nhân rộng mô hình. Khi mô hình sinh kế phát triển, lợi ích kinh tế sẽ quay trở lại với hộ gia đình và cộng đồng, tạo thành một chu trình sinh kế có khả năng duy trì lâu dài.
Ở chiều ngược lại, cộng đồng có sinh kế ổn định sẽ có thêm điều kiện thực hiện trách nhiệm bảo vệ diện tích rừng được giao. Đây là mối quan hệ hai chiều: rừng được bảo vệ tốt tạo ra giá trị; giá trị từ rừng được chia sẻ hợp lý tạo động lực để người dân tiếp tục bảo vệ rừng.
Hướng tới sinh kế xanh gắn với bảo vệ rừng
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu giảm phát thải ngày càng được quan tâm, những khu rừng tự nhiên rộng lớn như Pù Hu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hấp thụ và lưu giữ carbon. Tuy nhiên, để bảo vệ được những cánh rừng này lâu dài, bên cạnh các giải pháp quản lý, tuần tra, kiểm soát, cần đặc biệt quan tâm đến đời sống của cộng đồng sống gần rừng.
Việc nguồn thu từ thỏa thuận chi trả giảm phát thải được đưa trở lại cộng đồng thông qua các hoạt động hỗ trợ sinh kế, sản xuất và cơ sở hạ tầng thiết yếu đã tạo ra một hướng tiếp cận phù hợp với thực tiễn địa phương.
Năm 2024, 48 cộng đồng được hỗ trợ; năm 2025 là 38 cộng đồng và năm 2026 là 14 cộng đồng. Mỗi cộng đồng có điều kiện, nhu cầu và cách thức tổ chức sản xuất khác nhau, nhưng điểm chung là nguồn hỗ trợ đang hướng đến những nhu cầu thiết thực nhất của người dân.
Từ giống cây trồng, vật nuôi đến kênh mương, đường giao thông, công trình nước sạch và nhà văn hóa, những nguồn lực này đang góp phần tạo dựng nền tảng để người dân vùng đệm nâng cao đời sống, phát triển sản xuất và giảm áp lực lên tài nguyên rừng.
Có thể nói, hiệu quả lớn nhất của nguồn thu giảm phát thải không chỉ nằm ở số lượng cộng đồng hay số hạng mục được hỗ trợ, mà còn ở việc lợi ích từ rừng đã từng bước được chuyển hóa thành sinh kế và những giá trị cụ thể cho người dân sống gần rừng.
Khi người dân có sinh kế ổn định, có điều kiện sản xuất và đời sống được cải thiện, họ sẽ có thêm niềm tin, trách nhiệm và động lực để đồng hành cùng lực lượng quản lý, bảo vệ rừng.
Đó cũng là nền tảng để hình thành một vòng tròn phát triển bền vững tại Khu BTTN Pù Hu: bảo vệ rừng – giảm phát thải – tạo nguồn lực – hỗ trợ cộng đồng – phát triển sinh kế – tiếp tục bảo vệ rừng.
Từ những cánh rừng Pù Hu, giá trị của việc giảm phát thải vì thế không chỉ được đo bằng những con số về carbon, mà còn được nhìn thấy trong những mô hình sinh kế, những công trình phục vụ sản xuất và đời sống, và quan trọng hơn cả là sự đồng hành ngày càng chặt chẽ của cộng đồng với công tác bảo vệ rừng.