ĐỂ NHỮNG GIỌT MỒ HÔI GIEO VÀO ĐẤT NẢY MẦM

Kỳ 3: Ai sẽ ở lại với ruộng đồng?

(STNN) - Câu hỏi "Ai sẽ ở lại với ruộng đồng?", “Ai sẽ ở lại với làng quê?” lâu nay vẫn thường rơi vào im lặng khi người trẻ rời bỏ ruộng đồng. Nhưng trên những cánh đồng phù sa miền Tây hôm nay, câu trả lời đang dần hiển hiện từ một hướng khác: người ở lại không chỉ là những lão nông dạn dày sương gió, mà là những người trẻ mang theo ống nghiệm, mẫu vi sinh và khát vọng trả lại màu mỡ cho đất.
tren-nhung-canh-dong-1790674650.jpg
Những thảm lúa xanh mướt tại miền Tây sau khi nông dân thay đổi tập quán canh tác, chuyển sang xử lý rơm rạ bằng vi sinh để trả lại mùn hữu cơ cho đất.

Từ những cánh đồng quê nhà, những người nông dân đã bắt đầu thay đổi cách làm đất để giữ lại sức sống cho ruộng đồng. Nhưng để một thay đổi nhỏ trở thành một phương thức sản xuất bền vững, cần thêm sự đồng hành của khoa học, các nhà nghiên cứu, những nhà hoạt động môi trường và những người yêu nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Trong những phòng thí nghiệm, một nhóm sinh viên và các nhà nghiên cứu đang tiếp tục câu chuyện ấy bằng một cách khác: tìm lời giải từ vi sinh, đưa kết quả nghiên cứu trở lại ruộng đồng. Sau cùng, dù đứng ở vị trí nào, người nông dân hay nhà khoa học, điều họ cùng hướng tới vẫn là một điều giản dị: giữ đất cho những mùa sau.

Từ những cánh đồng quê nhà

Trong phòng thí nghiệm, những đôi mắt chăm chú dõi theo từng thí nghiệm. Những đôi tay làm việc với các mẫu vi sinh, những sản phẩm được nghiên cứu để xử lý gốc rơm rạ sau thu hoạch. Nhìn từ bên ngoài, đó có thể là câu chuyện của khoa học. Nhưng với những người trẻ trong nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Nguyễn Tất Thành - Thành phố Hồ Chí Minh, câu chuyện bắt đầu từ một nơi rất khác: từ những cánh đồng họ từng lớn lên cùng.

Sinh viên Trần Vũ Hoài An sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp. Ông bà, bố mẹ và nhiều người thân của em vẫn gắn với ruộng đồng. Những hình ảnh quen thuộc của một mùa gặt cũng vì thế trở nên rất gần: rơm rạ được đốt khi trời nắng, được cày vùi khi mưa, những cách làm đã tồn tại qua nhiều thế hệ. “Em rất hiểu những vất vả của người nông dân”, An chia sẻ khi nói về gia đình mình và những gì em từng chứng kiến trên đồng ruộng.

Sinh viên Đặng Thị Ngọc Mai cũng lớn lên trong một gia đình làm ruộng. Từ những ngày còn nhỏ, em đã thấy ông bà, bố mẹ vất vả với đồng đất. Chỉ đến khi học và nghiên cứu về vi sinh, Mai mới có cơ hội nhìn những câu chuyện quen thuộc ấy từ một góc độ khác: những gì tưởng như một thói quen sản xuất bình thường lại có thể tác động đến đất và môi trường.

Và đó cũng là lúc ký ức về ruộng đồng gặp kiến thức trong phòng thí nghiệm. Nhóm nghiên cứu trẻ gồm An, Mai, Luân, Kiệt cùng tham gia nghiên cứu các chế phẩm sinh học, vi sinh nhằm xử lý gốc rơm rạ sau thu hoạch. Điều đáng nói là các bạn không chỉ nghiên cứu để có một sản phẩm trong phòng thí nghiệm. Nghiên cứu ấy được đặt trong một câu hỏi cụ thể hơn: làm thế nào để người nông dân có thể thay đổi một thói quen đã ăn sâu qua nhiều thế hệ mà vẫn bảo đảm hiệu quả sản xuất?

nhom-nghien-cuu-cua-truong-dai-hoc-nguyen-tat-thanh-thanh-pho-ho-chi-minh-1790674650.jpg
Nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Nguyễn Tất thành, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ câu hỏi ấy, phòng thí nghiệm không còn là nơi kết thúc của một nghiên cứu. Nó trở thành điểm bắt đầu cho một hành trình dài hơn, hành trình đưa khoa học trở lại với cánh đồng. Với những người trẻ này, niềm vui khi được tham gia dự án cũng bắt đầu từ chính sự gần gũi ấy. Một người lớn lên trong gia đình làm nông nghiệp, yêu thích vi sinh và hóa học; một người vui khi được nghiên cứu những sản phẩm hướng tới nông nghiệp xanh, bền vững.

Những động lực rất riêng cuối cùng gặp nhau ở một mục tiêu chung: làm sao để người nông dân bớt đi một phần gánh nặng, còn đất đai bớt đi một phần áp lực sau mỗi vụ mùa.

Đưa phòng thí nghiệm ra bờ vùng, bờ thửa

Một nghiên cứu chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó bước ra khỏi phòng thí nghiệm. Với đất, điều đó càng rõ hơn. Bởi trên đồng ruộng, không có thí nghiệm nào chỉ có một biến số. Người nông dân phải đối mặt với thời tiết, giống lúa, sâu bệnh, chi phí, công lao động và thời gian giữa các vụ. Một giải pháp dù tốt đến đâu nhưng không phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế thì rất khó tồn tại lâu dài.

Đó là lý do nhóm nghiên cứu không dừng ở việc tạo ra sản phẩm. Những người trẻ đi cùng các chuyên gia tới cánh đồng, gặp người nông dân, hướng dẫn cách sử dụng và lắng nghe những phản hồi ngay trên thửa ruộng.

Từ phòng thí nghiệm tới đồng ruộng là một khoảng cách không chỉ tính bằng cây số. Đó còn là khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế, giữa một kết quả nghiên cứu và khả năng người nông dân có thể sử dụng nó trong một vụ mùa cụ thể.

PGS.TS Đinh Văn Phúc cho biết, trong năm 2025, nhóm nghiên cứu đã phối hợp với địa phương triển khai trên hơn 100 ha ruộng tại Vĩnh Long, hướng dẫn người dân thay đổi những thói quen vốn đã ăn sâu trong quá trình canh tác. Những kết quả bước đầu trên đồng ruộng cho thấy việc thay đổi cách xử lý rơm rạ có thể tạo ra những khác biệt mà người nông dân trực tiếp cảm nhận được.

pgs-ts-dinh-van-phuc-dh-nguyen-tat-thanh-1790674650.jpg
PGS.TS Đinh Văn Phúc - Trường Đại học Nguyễn Tất Thành.

Ở đó, khoa học không còn là những khái niệm nằm trên giấy. Người nông dân nhìn vào ruộng lúa của mình để đánh giá. Họ quan sát cây lúa, sâu bệnh, cỏ dại, lượng phân bón, công chăm sóc. Có người cho biết sau khi sử dụng sản phẩm vi sinh, lúa phát triển tốt hơn, giảm lượng phân sử dụng và giảm đáng kể cỏ ma. Có người từng lo ngại việc cày vùi gốc rơm rạ trong khoảng thời gian ngắn giữa các vụ thì nay đã yên tâm hơn khi có phương án xử lý mới.

Những phản hồi ấy lại trở thành một phần của quá trình nghiên cứu.

Bởi với khoa học ứng dụng, ruộng đồng cũng chính là nơi đặt ra những câu hỏi mới.

Từ những mô hình ban đầu, cách làm tiếp tục được mở rộng. Không chỉ một thửa ruộng, một hộ dân hay một địa phương, mục tiêu được đặt ra là có thể nhân rộng giải pháp trên những diện tích lớn hơn, để khoa học thực sự trở thành một phần của quá trình thay đổi phương thức sản xuất.

Nhìn bông lúa trĩu hạt mà lượng phân bón hóa học giảm được cả bao, lão nông Dương Văn Cao ở Vĩnh Long cười rạng rỡ bên bờ ruộng: "Trước đây làm lúa khổ quá, chi phí phân thuốc ăn hết vào lời. Giờ dùng phân vi sinh bón vào đất, đất xốp hẳn, năng suất cao mà nhẹ công. Thấy tụi nhỏ học hành bài bản mà chịu xắn quần lội bùn giúp quê hương, tụi tui mừng rơi nước mắt. Bây giờ, rất nhiều hộ nông dân đã chuyển hẳn sang phương pháp này".

thuc-dia-tren-nhung-canh-dong-1790674650.jpg
Thực địa trên những cánh đồng.

Nhưng khoa học không thể đi một mình. Một sản phẩm có thể được tạo ra trong phòng thí nghiệm, song để đi được tới nhiều cánh đồng cần sự tham gia của nhà khoa học, nhà trường, địa phương, người nông dân và những tổ chức đồng hành. Quan trọng hơn, người nông dân phải nhìn thấy hiệu quả và nhận ra rằng thay đổi không phải là thêm một gánh nặng, mà có thể giúp họ giảm chi phí, giảm công lao động, bảo vệ đất và duy trì sản xuất.

Đó cũng là điểm gặp nhau giữa câu chuyện của những người nông dân trong hai kỳ trước và nhóm nghiên cứu trẻ hôm nay. Người nông dân bắt đầu từ câu hỏi: nếu cứ lấy đi mà không trả lại, đất sẽ còn nuôi được bao nhiêu mùa? Nhà khoa học bắt đầu từ câu hỏi: bằng tri thức và công nghệ, có thể giúp đất phục hồi như thế nào? Hai cách tiếp cận khác nhau, nhưng cùng hướng về một cánh đồng.

PGS Đinh Văn Phúc cho biết: “Khi Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cùng các em sinh viên, những nhà nghiên cứu, những người hoạt động về môi trường và nông nghiệp đưa ra sản phẩm vi sinh này, chúng tôi đã nghiên cứu rất kỹ. Thử nghiệm, xác định độ thành công, và rất mừng khi ngay từ lần đầu tiên thử nghiệm đã đón nhận sự ủng hộ của hàng trăm hộ nông dân, chúng tôi mong muốn sẽ mang sản phẩm này đến với cả triệu hecta trên cả nước”.

Ai sẽ ở lại với ruộng đồng?

Có một điều đáng chú ý trong câu chuyện của nhóm nghiên cứu trẻ: họ không phải những người đứng ngoài.

Không nhất thiết phải là người trực tiếp cầm cuốc, cầm cày hay đứng trên một thửa ruộng. Có thể là một sinh viên ngồi trong phòng thí nghiệm. Một nhà khoa học dành nhiều năm nghiên cứu về vi sinh. Một kỹ sư tìm cách làm ra sản phẩm phù hợp với đất. Một cán bộ địa phương kiên trì vận động người dân. Hay một người nông dân quyết định thử một cách làm mới trên chính thửa ruộng của mình. Mỗi người ở một vị trí khác nhau, nhưng đều có thể góp một phần vào việc giữ đất.

TS Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, từng nhấn mạnh rằng chuyển đổi xanh không chỉ đơn thuần là đưa thêm một công nghệ vào sản xuất hay yêu cầu người dân thay đổi một thói quen. Đó là sự thay đổi trong tư duy phát triển, trong đó tăng trưởng kinh tế phải đi cùng bảo vệ môi trường và tiến bộ xã hội. Với sản xuất nông nghiệp, điều ấy càng có ý nghĩa khi đất vừa là tư liệu sản xuất, vừa là nền tảng của sinh kế. Bảo vệ đất vì thế không thể tách khỏi bài toán sinh kế của người nông dân.

Một mô hình chỉ có thể tồn tại khi người dân tiếp tục sử dụng nó sau khi dự án kết thúc. Một giải pháp chỉ có thể đi xa khi người nông dân thấy được lợi ích ngay trên cánh đồng của mình. Và một thay đổi chỉ có thể trở thành thay đổi của cả cộng đồng khi nó không còn phụ thuộc vào một vài cá nhân tiên phong.

Từ người nông dân đến nhà khoa học, từ thửa ruộng đến phòng thí nghiệm, từ những bó rơm rạ sau mùa gặt đến những nghiên cứu về vi sinh, có nhiều con đường khác nhau để đi tới một mục tiêu: Giữ đất.

Nhìn lại hành trình của ba kỳ bài, có thể thấy câu chuyện về đất không chỉ là câu chuyện của đất. Đó là câu chuyện về cách một người nông dân nghĩ về thửa ruộng của mình; cách một cộng đồng thay đổi phương thức sản xuất; và cách những người trẻ dùng tri thức để tìm thêm những giải pháp cho đồng ruộng.

Ở đó, nông nghiệp không chỉ được đo bằng năng suất của một vụ mùa, mà còn bằng khả năng duy trì sức sản xuất của đất.

Nông dân không chỉ là người trực tiếp làm ra hạt lúa, mà còn là chủ thể của những thay đổi trên cánh đồng.

Và nông thôn không chỉ là nơi có những thửa ruộng, mà còn là không gian để tri thức, khoa học, sinh kế và những thế hệ mới cùng tìm thấy lý do để gắn bó.

Có thể một người nông dân chỉ thay đổi cách xử lý một đống rơm.

Một nhóm sinh viên chỉ bắt đầu từ một thí nghiệm.

Một nhà khoa học chỉ đặt ra một câu hỏi về vi sinh.

Nhưng những thay đổi lớn đôi khi bắt đầu từ những việc rất nhỏ như thế.

Bởi cuối cùng, đất không thuộc về riêng một mùa vụ, cũng không thuộc về riêng một thế hệ. Đất đã nuôi người nông dân hôm nay. Đất tạo nên những cộng đồng làng quê. Đất giữ lại ký ức của nhiều thế hệ đã sống, làm việc và trưởng thành từ đồng ruộng. Vì thế, giữ đất cũng là giữ khả năng để những người đến sau vẫn có thể gieo xuống một mùa mới. Và có lẽ, câu hỏi “Ai sẽ ở lại với ruộng đồng?” không chỉ dành cho những người trẻ. Đó là câu hỏi dành cho tất cả chúng ta: sẽ để lại cho ruộng đồng điều gì sau mỗi mùa đã đi qua?

Nếu câu trả lời là một nền đất vẫn còn sức sống, một người nông dân vẫn có thể sống được bằng nghề, một vùng quê vẫn có thể tạo ra sinh kế và những thế hệ trẻ vẫn tìm thấy lý do để quay về, thì hành trình giữ đất hôm nay mới thực sự có ý nghĩa. Bởi đất không chỉ cho một mùa./.

Bài viết: YÊN KHƯƠNG, LỤC HƯỜNG - Video: TRẦN TRANG, ĐĂNG THỊNH