ĐỂ NHỮNG GIỌT MỒ HÔI GIEO VÀO ĐẤT NẢY MẦM

Kỳ 2: “Người thầy nông dân” trăn trở từ bục giảng đến cánh đồng

(STNN) - Dưới ngọn lửa đốt đồng, rơm rạ biến thành khói bụi độc hại; còn khi vùi vội xuống nước ngập sâu, chúng lại sinh khí độc làm thối rễ lúa non. Thấu hiểu quy luật hóa sinh ấy bằng trải nghiệm của một giáo viên Hóa học và nỗi nhọc nhằn của người trực tiếp canh tác 4 hecta ruộng, thầy giáo Nguyễn Văn Sĩ (xã Phú Lâm, tỉnh An Giang) đã tìm ra cách đánh thức nguồn dinh dưỡng ngủ quên trong từng cọng rơm, chứng minh rằng: khi người làm nông có tri thức đồng hành, đất mẹ sẽ không bao giờ cạn kiệt.
chan-dung-nguoi-thay-giao-nong-dan-1790673789.jpg
Chân dung người thầy giáo nông dân Nguyễn Văn Sĩ.

Một sáng kiến có thể bắt đầu từ một người nông dân, một phòng thí nghiệm hay một hợp tác xã. Nhưng để trở thành phương thức sản xuất của cả cộng đồng, nó phải đi qua nhiều mắt xích: khoa học, tổ chức sản xuất, thị trường và chính sách. Quan trọng hơn, người nông dân phải nhìn thấy hiệu quả đủ rõ trên chính thửa ruộng của mình để sẵn sàng thay đổi.

Ban ngày đứng trên bục giảng, chiều về lại tất bật với hơn 40.000 m² ruộng đồng, vợ chồng thầy giáo Nguyễn Văn Sĩ ở xã Phú Lâm, tỉnh An Giang, sống với hai vai trò tưởng chừng khác biệt nhưng cùng hướng đến một mối quan tâm: môi trường sống cho thế hệ mai sau.

Từ những trăn trở trước khói đốt đồng và những mùa vụ gắn bó với đất đai, người nông dân - thầy giáo ấy đã mang câu chuyện của mình đến Cuộc thi “Đồng xanh - Không khí sạch”. Từ một sáng kiến bắt đầu trên chính cánh đồng quê nhà, câu chuyện về những cánh đồng không khói đang dần được mở rộng.

Người thầy mang nỗi trăn trở từ bục giảng ra cánh đồng

Chúng tôi gặp vợ chồng anh Nguyễn Văn Sĩ khi cả hai đang đi thăm ruộng trong những ngày vừa xuống giống vụ mới. Với nhiều người, vài nghìn mét vuông đất đã là một tài sản lớn. Với vợ chồng anh Sĩ, hơn 40.000 m² ruộng vẫn được chăm chút bởi đôi tay của hai người, từ gieo sạ đến thu hoạch.

vo-chong-thay-si-ra-tham-ruong-1790673789.jpg
Vợ chồng thầy Sĩ ra thăm ruộng.

Là nông dân, anh Sĩ đồng thời là giáo viên dạy môn Hóa học; vợ anh cũng là một cô giáo. Mỗi ngày, họ vừa đứng lớp, vừa trở về với đồng ruộng. Những trang giáo án và những thửa ruộng tưởng như thuộc hai thế giới khác nhau, nhưng lại gặp nhau ở một điểm: trách nhiệm với thế hệ trẻ và môi trường sống.

Những buổi tan trường, nhìn học sinh đi qua những cánh đồng ngập khói đốt rơm rạ, người thầy giáo không khỏi trăn trở. “Thường học sinh tan trường chạy qua những cánh đồng đang đốt đồng, tôi thấy các em rất cực khổ, bởi những làn khói đó gây ô nhiễm môi trường”, anh Nguyễn Văn Sĩ chia sẻ.

Từ bục giảng, anh hiểu những tác động của ô nhiễm môi trường dưới góc nhìn khoa học. Từ cánh đồng, anh chứng kiến những tác động ấy trong đời sống hằng ngày. Hai trải nghiệm gặp nhau và đặt ra một câu hỏi giản dị: Liệu có cách nào để người nông dân không phải đốt rơm rạ mà vẫn bảo đảm hiệu quả sản xuất?

Theo nhà giáo Lê Văn Kha, Hiệu trưởng Trường THCS Phú Lâm, nhà trường có khả năng lan tỏa nhận thức rất lớn. Mỗi học sinh có thể mang những điều được học về môi trường trở lại gia đình; từ đó, những thói quen sản xuất cũng có thể từng bước thay đổi.

Với anh Sĩ, câu chuyện về môi trường vì thế không chỉ nằm trong bài giảng. Nó hiện diện ngay trên những con đường học sinh đi qua mỗi ngày, trên những thửa ruộng nơi gia đình anh gắn bó và trong câu hỏi về môi trường mà thế hệ sau sẽ được thừa hưởng.

thay-giao-nguyen-van-si-giang-bai-cho-hoc-sinh-1790673789.jpg
Thầy giáo Nguyễn Văn Sĩ giảng bài cho học sinh.

Gắn bó với ruộng đồng nhiều năm, đồng thời có kiến thức của một giáo viên hóa học, anh Nguyễn Văn Sĩ không dừng lại ở trăn trở. Từ thực tế sản xuất và những thử nghiệm của bản thân, anh xây dựng ý tưởng “Từ làn khói trắng đến cánh đồng xanh”.

Theo ông Nguyễn Tiến Duy, Phó Chủ tịch UBND xã Phú Lâm, câu chuyện của anh Sĩ đã tạo hiệu ứng tích cực trong công tác tuyên truyền, góp phần giúp người dân hạn chế đốt rơm rạ, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để tạo ra những sản phẩm thân thiện với môi trường và nâng cao giá trị kinh tế.

Ông Nguyễn Văn Quý, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Phú Lâm, cho biết đề tài của anh Nguyễn Văn Sĩ nhận được sự đồng tình của đông đảo nông dân trong Hợp tác xã Phú Đông. Hiện hơn 400 hộ đã đăng ký thực hiện trên diện tích khoảng 500 ha, từng bước thay đổi tập quán đốt rơm rạ sau thu hoạch.

Từ một người bắt đầu thử nghiệm trên ruộng của mình, cách làm mới dần có thêm những người cùng tham gia. Đó là bước chuyển quan trọng. Bởi một sáng kiến chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó vượt ra khỏi câu chuyện của người khởi xướng để trở thành một lựa chọn mà cộng đồng có thể nhìn thấy, thử nghiệm và tiếp nhận.

Một câu hỏi lớn hơn được đặt ra: Làm thế nào để một sáng kiến từ cơ sở có thể đi xa hơn, trở thành phương thức sản xuất phù hợp với nhiều người? Làm thế nào để bẻ gãy chuỗi phản ứng yếm khí độc hại ấy, biến cellulose trong cọng rơm thành thức ăn bổ dưỡng cho đất mà không cần dùng đến một que diêm?

thay-giao-nguyen-van-si-tai-nha-rieng-1790673789.jpg
Thầy giáo Nguyễn Văn Sĩ tại nhà riêng.

Không có “đường tắt” để thay đổi một cánh đồng

Sự chuyển động không chỉ dừng lại ở xã Phú Lâm. Nhu cầu giải phóng đồng ruộng khỏi khói bụi đã kết nối câu chuyện của người thầy giáo An Giang với nhóm nghiên cứu trẻ tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành.

Những sinh viên thế hệ 2000 như Đặng Thị Ngọc Mai, Trần Vũ Hoài An sinh ra từ những gia đình nông dân, hiểu rằng khoa học chỉ có giá trị khi tìm được đường xuống ruộng. Họ mang các chế phẩm vi sinh phân giải cellulose cải tiến bước ra khỏi phòng thí nghiệm, tìm về với các hợp tác xã ở miền Tây.

“Em sinh ra trong gia đình làm nông nghiệp, em rất hiểu những vất vả của người nông dân, bởi ông bà em như thế, bố mẹ em như thế, người thân em vẫn làm ruộng, vẫn đốt rơm rạ khi nắng, vẫn cày vùi khi mưa và có rất nhiều điều gây ra ô nhiễm đất, ô nhiễm môi trường”, sinh viên Trần Vũ Hoài An chia sẻ.

Với Đặng Thị Ngọc Mai, việc học về vi sinh mở ra một cách nhìn khác về chính công việc mà gia đình đã gắn bó qua nhiều thế hệ.

“Ông bà và bố mẹ em đều làm ruộng, đều canh tác nông nghiệp. Ngày trước em thấy ông bà, bố mẹ vất vả lắm. Khi em bắt đầu học về vi sinh, em được nghiên cứu các sản phẩm tốt cho đất, hướng tới nông nghiệp xanh, em vui vô cùng”, Mai nói.

Những thí nghiệm, những đôi mắt quan sát và những đôi tay nhuần nhuyễn của các chuyên gia vi sinh giờ đây hướng về những cánh đồng - nơi các giải pháp khoa học phải được kiểm chứng bằng điều kiện sản xuất cụ thể.

Với người làm nông, mỗi thay đổi đều gắn với một vụ mùa. Một quyết định không phù hợp có thể kéo theo chi phí phát sinh, công sức tăng lên, thậm chí ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của cả gia đình. Vì vậy, người nông dân không thay đổi chỉ vì một lời khuyên rằng cách làm mới tốt hơn cho môi trường.

Họ cần nhìn thấy hiệu quả trên chính thửa ruộng của mình. PGS.TS Đinh Văn Phúc, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, nhìn vấn đề từ yêu cầu đưa khoa học vào thực tiễn sản xuất. Theo ông, giá trị của một nghiên cứu nông nghiệp không dừng lại ở kết quả trong phòng thí nghiệm. Giải pháp phải được thử nghiệm trong điều kiện thực tế, phù hợp với cây trồng, đất đai, tập quán và khả năng đầu tư của người sản xuất.

Đó cũng là lý do các nhóm nghiên cứu trẻ phải bước ra khỏi phòng thí nghiệm. Trên cánh đồng, họ không chỉ đối diện với một bài toán khoa học mà còn phải trả lời những câu hỏi rất cụ thể của người nông dân: dùng thế nào, tốn bao nhiêu, hiệu quả ra sao và liệu vụ sau có thể tiếp tục hay không?

Khoa học, vì thế, chỉ thực sự có ý nghĩa khi tìm được đường xuống ruộng.

Ông Hùng ở ấp 1, xã Quới An, Vĩnh Long, gắn bó với những cánh đồng được nhiều thế hệ trong gia đình để lại. Hiện gia đình ông canh tác khoảng 9 công ruộng, tương đương 9.000 m². Cùng với tình yêu dành cho ruộng đồng là những lo lắng rất cụ thể của một người sản xuất.

“Lo nhiều chứ. Trước đây cứ cày vùi xuống mà thời gian giữa các vụ ngắn nên năng suất không cao, lúa cứ lên là dễ bị sâu bệnh và vàng lá. Phun thuốc thì tốn kém”, ông Hùng chia sẻ.

Hai người nông dân khác tại cánh đồng cũng kể về những khó khăn từng gặp phải khi tiếp tục phương thức canh tác cũ.

“Trước đây tôi cày vùi vì rơm rạ thì lấy về cho bò ăn, nhưng khi bắt đầu vào vụ mới thì gặp rất nhiều vấn đề, vàng lá, lúa không lên đòng, sâu bệnh, tốn kém rất nhiều phân bón và công chăm sóc”.

Một người khác cho biết: “Tôi thường bắt đầu vụ mới khi vẫn còn gốc rơm rạ, vì bao lâu nay chỉ cày vùi xuống. Nhưng với nhiều giống lúa sẽ gặp nhiều vấn đề, và mùi đất rất khác. Chỉ sử dụng vi sinh theo dự án thì đất đen hơn và không còn bị mùi hôi nữa”.

Những vấn đề trên cánh đồng không chỉ đến từ thời tiết. Đó còn là câu chuyện về giống lúa, sâu bệnh, thiên địch, đất đai và từng giai đoạn sinh trưởng. Nỗi lo của người nông dân vì thế không chờ đến cuối vụ. Nó hiện diện theo từng ngày, thậm chí theo sự thay đổi của từng cây lúa.

Tại xã Quới An, 52 hộ dân đang thử nghiệm sản phẩm vi sinh thay thế việc đốt rơm rạ trên đồng. Điều đáng chú ý là sự thay đổi không được áp đặt từ bên ngoài. Chính những người thụ hưởng trực tiếp đang thử nghiệm, quan sát và tự đánh giá hiệu quả qua sản xuất.

PGS.TS Đinh Văn Phúc chia sẻ: “Chúng tôi rất vui khi trong hành trình này đã giúp đỡ được nhiều hộ nông dân thay đổi nhận thức, họ thay đổi từng ngày và hiệu quả nhìn thấy rõ trên những cánh đồng”.

Trong sản xuất nông nghiệp, một sáng kiến thường bắt đầu rất nhỏ: một người nông dân thử giữ lại rơm rạ thay vì đốt; một nhóm nghiên cứu thử nghiệm giải pháp vi sinh; một hợp tác xã tìm cách tổ chức lại sản xuất; một doanh nghiệp tìm đầu ra cho phụ phẩm nông nghiệp.

Mỗi việc đều có thể tạo ra một thay đổi nhất định. Nhưng nếu những mắt xích ấy không gặp nhau, thay đổi rất dễ dừng lại ở quy mô mô hình.

Đây cũng là điểm khó nhất của quá trình chuyển đổi sản xuất nông nghiệp.

Việc không đốt rơm rạ, nhìn từ bên ngoài, có thể là một lựa chọn đơn giản. Nhưng sau khi máy gặt đi qua, rơm nằm lại trên đồng. Ai thu gom? Thu gom bằng cách nào? Đưa đi đâu? Nếu trở thành nguyên liệu cho một quy trình khác, ai tổ chức? Chi phí vận chuyển có đủ thấp để người nông dân thấy có lợi? Nếu không có đầu ra ổn định, liệu người dân có tiếp tục duy trì cách làm ấy sau một vài vụ?

Từ một vấn đề môi trường, câu chuyện nhanh chóng trở thành câu chuyện kinh tế. Và từ đây, vai trò của hợp tác xã, doanh nghiệp và các tổ chức liên kết trở nên rõ hơn. Một người nông dân có thể tự quyết định trên thửa ruộng của mình. Nhưng họ khó có thể một mình tổ chức thu gom hàng chục, hàng trăm tấn phụ phẩm; xây dựng quy trình xử lý; tìm thị trường; đầu tư máy móc hay duy trì một chuỗi sản xuất ổn định.

Cánh đồng vì thế không thể chuyển đổi bằng những nỗ lực rời rạc. Ở góc độ chính sách và quản trị môi trường, TS Nguyễn Ngọc Sinh cho rằng một trong những vấn đề cần quan tâm là làm thế nào để những sáng kiến ở cơ sở không dừng lại ở những mô hình riêng lẻ. Một giải pháp muốn nhân rộng cần có tổ chức thực hiện, nguồn lực, cơ chế hỗ trợ, sự tham gia của doanh nghiệp và đặc biệt là cơ chế để người nông dân được hưởng lợi từ kết quả chuyển đổi.

Không chỉ hỏi một công nghệ có tốt hay không, mà còn phải hỏi công nghệ ấy có thể đi vào đâu, ai tổ chức, ai đầu tư, ai sử dụng, chi phí thế nào và người nông dân được hưởng lợi ra sao.

Những câu hỏi tưởng như thuộc về kinh tế lại quyết định một giải pháp môi trường có thể duy trì trong bao lâu.

Từ một mô hình đến một cộng đồng sản xuất

Một nền nông nghiệp đang chuyển đổi cần nhiều hơn những công nghệ mới. Nó cần một cách tổ chức mới, trong đó người nông dân không đứng một mình.

Trước đây, kinh nghiệm sản xuất của mỗi gia đình thường được truyền lại trong phạm vi một thửa ruộng, một xóm làng. Người này nhìn người kia làm rồi tự điều chỉnh theo điều kiện của mình. Cách làm ấy vẫn có giá trị. Nhưng trước những yêu cầu mới của sản xuất, người nông dân cần thêm những thứ mà kinh nghiệm cá nhân khó có thể cung cấp: dữ liệu, khoa học, công nghệ, tiêu chuẩn, thị trường và khả năng liên kết.

Một người nông dân biết cách làm ra một sản phẩm tốt chưa chắc đã biết cách xây dựng thị trường cho sản phẩm ấy. Một nhà khoa học có thể tạo ra một giải pháp hiệu quả chưa chắc đã biết cách đưa giải pháp đến hàng nghìn hộ nông dân. Một doanh nghiệp có thị trường cũng chưa chắc có thể tự mình tổ chức toàn bộ vùng nguyên liệu.

Những khoảng trống ấy chỉ có thể được thu hẹp khi các bên cùng tham gia vào một chuỗi liên kết thực chất.

PGS.TS Đinh Văn Phúc nhìn sự liên kết ấy từ chính quá trình chuyển giao khoa học. Một công nghệ muốn đi vào đời sống sản xuất cần quá trình thử nghiệm, điều chỉnh và hướng dẫn. Nhà khoa học không thể chỉ đưa sản phẩm đến cho nông dân rồi chờ kết quả. Phản hồi từ ruộng đồng cũng phải quay trở lại phòng nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện giải pháp.

Đó là một quá trình hai chiều.

Người nông dân không chỉ là người “tiếp nhận” công nghệ. Họ chính là người kiểm chứng công nghệ trong điều kiện thực tế.

Những nhóm nghiên cứu trẻ như Đặng Thị Ngọc Mai, Trần Vũ Hoài An và các thành viên cùng nhóm vì thế đứng ở một vị trí đáng chú ý. Họ không chỉ học về công nghệ mà còn phải học cách lắng nghe người sản xuất, hiểu những giới hạn của một hộ nông dân và nhìn thấy khoảng cách giữa một giải pháp khoa học với một quy trình có thể áp dụng trên diện rộng.

Khoảng cách ấy quyết định một nghiên cứu có thực sự trở thành giá trị xã hội hay không.

Ở góc nhìn rộng hơn, GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh nhấn mạnh rằng những thay đổi trong nông nghiệp cần được đặt trong tổng thể bảo vệ hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên. Công nghệ chỉ phát huy ý nghĩa khi giúp con người sử dụng tài nguyên hợp lý hơn, giảm tác động bất lợi đến môi trường và duy trì khả năng sản xuất lâu dài.

Điều này đưa câu chuyện trở lại với điểm xuất phát của tuyến bài: đất.

Nếu đất là nền tảng của sản xuất, khoa học phải giúp chăm sóc nền tảng ấy tốt hơn. Nếu người nông dân là chủ thể của sản xuất, công nghệ phải giúp họ sản xuất hiệu quả hơn. Và nếu nông thôn là không gian sống, chuyển đổi nông nghiệp phải đồng thời tạo ra những điều kiện tốt hơn cho cộng đồng.

Không phải sáng kiến nào cũng có thể nhân rộng. Một mô hình phù hợp ở vùng đất này chưa chắc phù hợp ở vùng đất khác. Một giải pháp hiệu quả về kỹ thuật có thể có chi phí cao. Một sản phẩm tốt có thể chưa tìm được thị trường. Người nông dân có thể sẵn sàng thay đổi nhưng thiếu thông tin, thiếu vốn hoặc thiếu một tổ chức đủ năng lực để đồng hành.

Nếu chỉ kể những câu chuyện thành công, bức tranh chuyển đổi nông nghiệp sẽ trở nên quá dễ dàng. Trong thực tế, chính những điểm nghẽn ấy mới quyết định một sáng kiến có thể đi được bao xa.

Đó cũng là lý do TS Nguyễn Ngọc Sinh đặt vấn đề chuyển đổi xanh trong mối quan hệ với cộng đồng và thể chế. Một thay đổi lâu dài không thể chỉ dựa vào nỗ lực của cá nhân. Nó cần sự tham gia của người dân, tổ chức khoa học, doanh nghiệp, chính quyền và các tổ chức xã hội.

Từ một thửa ruộng đến một cánh đồng, khoảng cách không nằm ở số lượng người tham gia mà ở chỗ những người ấy có thực sự trở thành một cộng đồng sản xuất hay không.

Một người làm khác đi có thể tạo ra một điểm sáng giữa cánh đồng. Nhưng khi người nông dân có khoa học đứng phía sau, có hợp tác xã tổ chức, có doanh nghiệp tìm đầu ra và có thị trường ghi nhận giá trị tạo ra, một cách làm mới mới có cơ hội trở thành một lựa chọn sản xuất. Khi ấy, cánh đồng không chỉ thay đổi cách canh tác. Nó thay đổi cách những người trên cánh đồng ấy làm việc với nhau.

Và đó có lẽ là bước chuyển khó nhất của nông nghiệp: từ một người làm khác đi đến nhiều người cùng làm một cách khác đi. Nhưng ngay cả khi khoa học đã đến được ruộng đồng, sản xuất đã có liên kết và một phương thức canh tác mới chứng minh được hiệu quả, vẫn còn một câu hỏi lớn hơn.

Ai sẽ là người tiếp tục công việc ấy trong 10 năm, 20 năm tới? Khi nghề nông thay đổi, khi ruộng đồng đòi hỏi nhiều hơn về tri thức và công nghệ, liệu người trẻ có nhìn thấy ở đó một sinh kế đủ hấp dẫn để trở về, ở lại và tiếp tục?

(Còn tiếp)

Bài viết: YÊN KHƯƠNG, LỤC HƯỜNG - Video: TRẦN TRANG, ĐĂNG THỊNH