Tăng trưởng ổn định
Trong mức tăng chung 4,02% của toàn khu vực 9 tháng năm 2026, ngành nông nghiệp tăng 3,72%, đóng góp 3,60% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,99%, đóng góp 0,25%; ngành thủy sản tăng 4,99%, đóng góp 1,50%. Riêng quý III/2026, khu vực này đạt mức tăng 4,21%.
Tính chung 9 tháng, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,65% cơ cấu kinh tế cả nước. Khu vực này hiện tạo việc làm cho 13,3 triệu lao động, chiếm 25,1% tổng số lao động có việc làm toàn xã hội. Năng lực đầu tư vào nông nghiệp tiếp tục được củng cố với 1.558 doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng, tăng 17,0% so với cùng kỳ năm trước. Đồng thời, vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 516,6 triệu USD, chiếm 18,6% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của cả nước.
Chuyển biến trong trồng trọt
Sản xuất lúa vụ hè thu đạt thắng lợi về năng suất dù diện tích gieo cấy thu hẹp. Cả nước xuống giống 1.861,6 nghìn ha, giảm 36,8 nghìn ha so với cùng vụ năm 2025 do chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển sang nuôi thủy sản hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Đến ngày 20/9/2026, cả nước đã thu hoạch 1.819,5 nghìn ha, đạt 97,7% diện tích gieo cấy.
Nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi hơn năm trước, năng suất lúa hè thu bình quân cả nước ước đạt 58,9 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha, trong đó miền Bắc đạt 49,0 tạ/ha, tăng tới 9,0 tạ/ha; miền Nam đạt 59,8 tạ/ha; riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 60,3 tạ/ha. Tổng sản lượng lúa hè thu cả nước ước đạt gần 11,0 triệu tấn, tăng 71,2 nghìn tấn so với năm 2025.
Đối với các vụ lúa tiếp theo, tính đến ngày 20/9/2026, cả nước gieo cấy được 1.337,1 nghìn ha lúa mùa và gieo sạ 474,1 nghìn ha lúa thu đông. Tiến độ xuống giống lúa thu đông chậm hơn cùng kỳ do các địa phương chủ động điều chỉnh lịch thời vụ để tránh mưa bão và triều cường. Điểm sáng nổi bật là Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã ghi nhận 420,8 nghìn ha áp dụng quy trình sản xuất bền vững. Đến nay, 552,4 tấn gạo đầu tiên mang thương hiệu phát thải thấp đã được xuất khẩu sang các thị trường Nhật Bản, Australia, Singapore và Malaysia.

Diện tích cây lâu năm tiếp tục mở rộng, đạt 3.891,0 nghìn ha, tăng 40,8 nghìn ha so với cùng kỳ năm 2025. Diện tích cây công nghiệp lâu năm đạt 2.224,4 nghìn ha và cây ăn quả đạt 1.320,6 nghìn ha. Nhiều loại cây có nhu cầu xuất khẩu lớn tăng nhanh diện tích như cà phê đạt 790,7 nghìn ha, dừa đạt 208,0 nghìn ha, sầu riêng đạt 201,6 nghìn ha. Sản lượng thu hoạch 9 tháng của nhóm cây ăn quả chủ lực tăng khá: chuối đạt hơn 2,3 triệu tấn, tăng 4,0%; sầu riêng đạt hơn 1,3 triệu tấn, tăng 13,8%; mít đạt hơn 1,0 triệu tấn, tăng 8,7%; dừa đạt gần 2,1 triệu tấn, tăng 6,6%; chè búp đạt 990,1 nghìn tấn, tăng 5,1%. Công tác quản lý mã số vùng trồng được đẩy mạnh với 10.252 mã số vùng trồng và 1.841 mã số cơ sở đóng gói được cấp phép tính đến cuối tháng 8/2026.
Đàn lợn và gia cầm phát triển tốt

Chăn nuôi gia súc, gia cầm có sự phân hóa theo nhu cầu thị trường. Đàn trâu giảm 6,4% và đàn bò giảm 1,6% do đồng cỏ chăn thả bị thu hẹp. Ngược lại, chăn nuôi lợn và gia cầm duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ giá bán sản phẩm ổn định và mô hình trang trại an toàn sinh học phát huy hiệu quả. Tại thời điểm cuối tháng 9/2026, tổng đàn lợn cả nước tăng 5,4% và đàn gia cầm tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 9 tháng đạt 4.279,9 nghìn tấn, tăng 4,4%; sản lượng thịt gia cầm đạt 2.023,3 nghìn tấn, tăng 5,3%; sản lượng trứng đạt 15.706,7 triệu quả, tăng 1,9%; sản lượng sữa tươi đạt 1.006,3 nghìn tấn, tăng 5,0%. Công tác kiểm soát thú y ghi nhận kết quả tích cực khi cả nước hoàn toàn sạch dịch tai xanh và lở mồm long móng, trong khi các ổ dịch tả lợn châu Phi và cúm gia cầm phát sinh nhỏ lẻ tiếp tục được theo dõi xử lý.
Thủy sản và lâm nghiệp tăng sản lượng

Tổng sản lượng thủy sản 9 tháng năm 2026 ước đạt 7.890,9 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nuôi trồng thủy sản đạt 4.860,6 nghìn tấn, tăng 5,9%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của toàn ngành. Nhờ việc nhân rộng các mô hình thâm canh công nghệ cao, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 940,8 nghìn tấn, tăng 8,3%; tôm sú đạt 261,3 nghìn tấn, tăng 4,4%. Sản lượng cá tra đạt 1.431,6 nghìn tấn, tăng 4,4%. Giá cá tra nguyên liệu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long duy trì ở mức 28.000 đến 34.000 đồng/kg, bảo đảm cho người nuôi đạt mức lợi nhuận khoảng 4.000 đồng/kg. Hoạt động khai thác thủy sản đạt 3.030,3 nghìn tấn, tăng 0,9%, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 2.901,6 nghìn tấn.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, sản lượng gỗ khai thác 9 tháng đạt 18.901,0 nghìn m³, tăng 5,3% nhờ giá gỗ nguyên liệu duy trì ở mức ổn định. Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 215,8 nghìn ha, giảm 3,0% so với cùng kỳ do quỹ đất trồng rừng bị thu hẹp sau đợt dồn lực trồng lại diện tích thiệt hại vì bão số 3 năm 2025. Đáng chú ý, điều kiện thời tiết nắng nóng cực đoan đã khiến diện tích rừng bị cháy trong 9 tháng tăng 1,3 lần, lên mức 733,0 ha, tập trung chủ yếu tại các địa phương Quảng Trị, Gia Lai và Đà Nẵng.
Kim ngạch xuất khẩu và giải pháp quý IV
Về thương mại, nhóm hàng nông, lâm sản 9 tháng đạt kim ngạch xuất khẩu 30,0 tỷ USD, chiếm 6,9% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước; nhóm hàng thủy sản đạt 9,10 tỷ USD, chiếm 2,1%; xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 13,30 tỷ USD, tăng 6,3%. Riêng mặt hàng gạo xuất khẩu đạt 6,45 triệu tấn với trị giá 3,1 tỷ USD, giảm 5,4% về lượng và giảm 12,3% về giá trị. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng tăng 4,11%, phản ánh chi phí đầu vào và giá nguyên vật liệu duy trì ở mức cao. Thiên tai 9 tháng cũng gây thiệt hại đáng kể, làm hư hỏng hơn 81,0 nghìn ha lúa, gần 17,4 nghìn ha hoa màu và làm chết trên 298 nghìn con gia súc, gia cầm.
Nhằm bảo đảm hoàn thành thắng lợi các mục tiêu sản xuất năm 2026, trong ba tháng cuối năm, ngành nông nghiệp tập trung đẩy mạnh cơ cấu lại theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, thích ứng với biến đổi khí hậu và củng cố liên kết chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ. Toàn ngành tăng cường giám sát dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; thúc đẩy chăn nuôi an toàn sinh học quy mô lớn; chủ động phương án điều tiết nước, ứng phó bão lũ, hạn hán và xâm nhập mặn; đồng thời siết chặt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng nhằm bảo vệ an toàn diện tích sản xuất trên cả nước.