Ngành hàng sầu riêng: 5 giải pháp trọng tâm để chinh phục mục tiêu 4 tỷ USD

(STNN) - Với kim ngạch xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2026 đạt gần 2 tỷ USD, ngành hàng sầu riêng đang khẳng định vị thế chủ lực. Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định 5 giải pháp trọng tâm nhằm hướng đến sự phát triển chuyên nghiệp, minh bạch và bền vững.

Một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của rau quả Việt Nam

Tại họp báo Chính phủ thường kỳ chiều ngày 3/9, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp đã cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến tình hình và định hướng phát triển ngành hàng sầu riêng của Việt Nam.

Những năm gần đây, sầu riêng đã trở thành một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của rau quả Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu đã ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc, từ 177,7 triệu USD năm 2021 lên khoảng 3,85 tỷ USD vào năm 2025, chiếm khoảng 45% tổng giá trị xuất khẩu của nhóm ngành hàng rau quả.

Đà tăng trưởng này tiếp tục được duy trì trong năm 2026. Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 1,47 tỷ USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ. Ước tính trong 8 tháng đầu năm 2026, con số này đã đạt 1,97 tỷ USD, tăng 28,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thị trường Trung Quốc vẫn đóng vai trò chủ đạo, chiếm trên 95% thị phần với kim ngạch đạt 1,85 tỷ USD, tăng 29,9%.

thu-truong-bo-nnmt-dang-ngoc-diep-1788488443.png
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp thông tin về việc tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu sầu riêng - Ảnh: chinhphu.vn.

Bên cạnh thị trường truyền thống, Việt Nam đã nỗ lực mở rộng thị trường xuất khẩu tới hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Một dấu mốc quan trọng là từ tháng 7/2026, Ấn Độ đã chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam, mở ra dư địa tăng trưởng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, công tác quản lý vùng trồng và cơ sở đóng gói đã được chú trọng. Hiện cả nước có 1.599 mã số vùng trồng và 281 cơ sở đóng gói đang hoạt động. Gần đây nhất, vào ngày 14/8/2026, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) đã phê duyệt bổ sung 401 mã số vùng trồng và 166 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng cho Việt Nam.

Tuy nhiên, ngành sầu riêng vẫn đối mặt với một số khó khăn và thách thức. Diện tích tăng nhanh nhưng tại một số địa phương, việc mở rộng sản xuất còn mang tính tự phát, chưa gắn chặt với điều kiện đất đai, nguồn nước và tổ chức chuỗi giá trị. Yêu cầu kỹ thuật từ các thị trường nhập khẩu ngày càng cao, đặc biệt về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, trong khi sầu riêng Việt Nam cũng chịu sức ép cạnh tranh từ các nước trong khu vực.

Từ thực tiễn đó, bài học kinh nghiệm được rút ra là cần chuyển từ tư duy "gỡ khó khi phát sinh" sang chủ động chuẩn bị từ sớm, từ xa. Lấy chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc làm nền tảng; lấy thị trường và doanh nghiệp làm định hướng tổ chức sản xuất; tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị.

sau-rieng-1788489181.jpg
Ứng dụng khoa học - công nghệ và đẩy mạnh chuyển đổi số trong ngành sầu riêng - Hình minh họa.

5 giải pháp trọng tâm cho ngành hàng sầu riêng

Nhằm hướng ngành hàng sầu riêng phát triển chuyên nghiệp, minh bạch, chất lượng và bền vững, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chỉ đạo, định hướng tập trung thực hiện 5 giải pháp trọng tâm.

Thứ nhất, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Công tác này bao gồm việc tiếp tục đàm phán để tăng thị phần tại các thị trường tiềm năng như Ấn Độ, Úc, New Zealand; đồng thời gia tăng xuất khẩu sầu riêng đông lạnh và các sản phẩm chế biến sâu. Tăng cường quảng bá thương hiệu, kết nối cung cầu, cùng với việc nâng cao năng lực phân tích, dự báo thị trường để kịp thời định hướng sản xuất và tiêu thụ.

Thứ hai, tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu bền vững. Giải pháp này yêu cầu rà soát, quy hoạch lại các vùng sản xuất cho phù hợp với điều kiện tự nhiên và hạ tầng. Cần phát triển các vùng nguyên liệu tập trung gắn với cơ sở sơ chế, chế biến, bảo quản và xuất khẩu. Củng cố chuỗi liên kết nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trở lại vùng nguyên liệu để từng bước xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam.

Thứ ba, chuẩn hóa chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Đây là giải pháp then chốt, đòi hỏi việc nâng cao trình độ nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ và đẩy mạnh chuyển đổi số. Tổ chức sản xuất phải tuân thủ quy trình an toàn, kiểm soát chặt chẽ vật tư đầu vào và các nguy cơ về dư lượng.

Thứ tư, phát triển hạ tầng bảo quản, chế biến và logistics. Khuyến khích đầu tư xây dựng kho lạnh, cơ sở sơ chế, bảo quản và chế biến ngay tại các vùng sản xuất tập trung. Đẩy mạnh chế biến sâu để đa dạng hóa sản phẩm, đồng thời ứng dụng công nghệ để giảm chi phí logistics, nâng cao chất lượng sản phẩm. Việc nâng cấp hạ tầng thủy lợi, giao thông phục vụ vùng nguyên liệu cũng là một nhiệm vụ quan trọng.

Thứ năm, mở rộng, củng cố và nâng cao năng lực hệ thống phòng kiểm nghiệm. Tiếp tục xã hội hóa để mở rộng các phòng kiểm nghiệm đủ điều kiện; ưu tiên đầu tư thiết bị, nâng cao năng lực kiểm nghiệm, nhất là đối với các chỉ tiêu đặc thù theo yêu cầu của thị trường nhập khẩu như Cadimi và Vàng O. Bên cạnh đó, cần chuẩn hóa quy trình, đẩy mạnh số hóa để rút ngắn thời gian và nâng cao độ tin cậy của kết quả kiểm nghiệm. 

Với những định hướng và giải pháp cụ thể này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu sầu riêng năm 2026 ít nhất bằng mức 3,85 tỷ USD của năm 2025 và có thể đạt khoảng 4 tỷ USD.

LÊ KHÁNH