Ngành trà Nhật Bản tái cơ cấu sản xuất, lập kỷ lục xuất khẩu nhờ chuyển dịch sang phân khúc giá trị cao

(STNN) - Bộ Nông Lâm Thủy sản Nhật Bản (MAFF) vừa công bố báo cáo toàn diện về tình hình ngành trà, phản ánh bức tranh sản xuất đang chịu áp lực chuyển dịch mạnh mẽ cùng chiến lược bứt phá xuất khẩu nhờ các dòng sản phẩm chất lượng cao, công nghệ thông minh và bảo hộ thương hiệu quốc tế.
tra-nhat-ban-tai-xuat-khau-stnn-1791966937.jpg
Hình minh họa.

Tái cơ cấu quy mô sản xuất: Giảm số hộ canh tác, mở rộng diện tích trồng trà chuyên nghiệp

Theo báo cáo “Tình hình ngành trà” được Bộ Nông Lâm Thủy sản Nhật Bản phát hành tháng 10/2026, cơ cấu tổ chức sản xuất nông nghiệp trong nước đang ghi nhận sự thay đổi sâu sắc khi số lượng chủ thể canh tác giảm dần nhưng quy mô bình quân mỗi hộ lại liên tục mở rộng. Thống kê theo tiêu chí hộ nông dân có phát sinh doanh số bán hàng cho thấy số lượng đã giảm từ 37.617 hộ vào năm 2005 xuống 19.603 hộ năm 2015. Tính theo tiêu chí các đơn vị kinh doanh cá thể, quy mô toàn ngành đến năm 2025 chỉ còn lại 7.726 đơn vị.

Trái ngược với sự thu hẹp về số lượng hộ, diện tích vùng trồng bình quân của mỗi đơn vị tại các địa phương trọng điểm lại tăng trưởng đáng kể trong giai đoạn 2010 - 2025. Cụ thể, diện tích nương trà trung bình của mỗi hộ tại tỉnh Shizuoka đã tăng từ 1,0 hécta lên 1,7 hécta, tỉnh Kagoshima mở rộng từ 3,0 hécta lên 4,3 hécta và tỉnh Mie tăng từ 1,3 hécta lên 2,1 hécta. Quá trình tích tụ này giúp tối ưu hóa thiết bị cơ giới và gia tăng hiệu quả quản trị trên từng hécta canh tác.

Chuyển đổi cơ cấu chủng loại: Giảm trà lá truyền thống, tăng tốc sản lượng trà nguyên liệu Tencha

Xét về diện tích tổng thể, quỹ đất canh tác trà của Nhật Bản có xu hướng thu hẹp dần từ 48.000 hécta năm 2008 xuống còn 33.000 hécta năm 2025, tuy nhiên tổng sản lượng toàn ngành vẫn duy trì khá vững chắc quanh ngưỡng 70.000 tấn mỗi năm. Cơ cấu phẩm cấp sản phẩm ghi nhận sự phân hóa rõ nét khi sản lượng trà thu hoạch búp lứa đầu tiên phục vụ nhu cầu uống trà lá truyền thống liên tục sụt giảm, nhường chỗ cho sự gia tăng ổn định của các đợt trà thu hoạch lứa thứ tư và trà thu đông dùng làm nguyên liệu chế biến đồ uống công nghiệp.

Đặc biệt, sự bùng nổ nhu cầu ẩm thực matcha trên thị trường thế giới đã kích thích sản lượng trà Tencha (nguyên liệu lá trà che nắng chuyên dùng để nghiền thành bột matcha) tăng trưởng nhảy vọt. Đến năm 2025, sản lượng Tencha của Nhật Bản đã đạt 6.278 tấn, gấp khoảng 3,2 lần so với năm 2014. Giá trị kinh tế của loại trà này hoàn toàn áp đảo khi giá trà thô bình quân cả vụ năm 2025 của Tencha chạm mốc 8.562 Yên/kg, cao gấp khoảng 4,9 lần so với mức 1.746 Yên/kg của dòng trà Sencha thông thường.

Thách thức nhân lực già hóa và bài toán tái canh, đồng bộ cơ giới hóa vùng trồng

Bên cạnh những điểm sáng về giá trị kinh tế, ngành trà Nhật Bản đang đối mặt với bài toán nan giải về nguồn nhân lực khi tỷ lệ già hóa tăng nhanh và áp lực thiếu hụt nhân công trong các vụ thu hoạch ngày càng trầm trọng. Lực lượng lao động trực tiếp trong ngành liên tục giảm sút qua từng năm, trong đó tỷ lệ nhân sự từ 65 tuổi trở lên đã tăng mạnh từ mức 55% vào năm 2010 lên 63% vào năm 2025, đặt ra thách thức lớn về tính kế thừa nghề nông.

Đồng thời, khoảng 40% diện tích nương trà trên toàn quốc hiện có tuổi cây vượt quá 30 năm, tiềm ẩn nguy cơ suy giảm cả về năng suất lẫn phẩm cấp búp trà tươi nếu không được chăm sóc đặc biệt. Trong khi đó, diện tích thực tế nhận được các gói hỗ trợ của nhà nước để triển khai trồng tái canh, thay thế giống già cỗi mới chỉ đạt khoảng 20% tổng diện tích, khiến quá trình chuẩn hóa mặt bằng để áp dụng cơ giới hóa đồng bộ tại một số vùng địa hình đồi dốc vẫn diễn ra tương đối chậm.

Xuất khẩu lập đỉnh lịch sử: Vị thế vượt trội của dòng trà xanh dạng bột trên thị trường quốc tế

Ở chiều ngược lại, hoạt động ngoại thương của ngành trà lại xác lập những cột mốc lịch sử mới. Năm 2025, tổng khối lượng xuất khẩu trà xanh của Nhật Bản đạt 13.000 tấn với trị giá kim ngạch lên tới 72,1 tỷ Yên, xác lập mốc kỷ lục cao nhất từ trước đến nay. Đà tăng trưởng tiếp tục được giữ vững trong năm 2026 khi kim ngạch xuất khẩu lũy kế 8 tháng đầu năm đã chạm ngưỡng 67,4 tỷ Yên.

Hạt nhân tạo nên kỳ tích xuất khẩu này chính là dòng trà xanh dạng bột, chủ yếu là matcha cao cấp. Khối lượng xuất khẩu trà bột năm 2025 đạt 8.718 tấn, chiếm tới 69% tổng khối lượng trà xanh xuất khẩu của Nhật Bản. Về mặt giá trị thương mại, trà bột thu về 60,384 tỷ Yên, chiếm tới 84% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Đơn giá xuất khẩu bình quân của trà bột đạt 6.927 Yên/kg, cao gấp khoảng 2,3 lần so với mức 3.007 Yên/kg của các chủng loại trà xanh xuất khẩu ở dạng thức khác.

Chiến lược chuyển đổi đến năm 2030: Tối ưu hiệu suất thông minh và bảo hộ thương hiệu toàn cầu

Trước tiềm năng to lớn của thị trường quốc tế, Nhật Bản đã đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu trà đạt 81 tỷ Yên vào năm 2030, đồng thời mở rộng số lượng vùng sản xuất xuất khẩu mũi nhọn từ 12 vùng hiện nay lên 20 vùng trong thời gian tới. Định hướng phát triển này được triển khai đồng bộ qua ba mũi nhọn chủ lực:

Các vùng trồng đang đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa và nông nghiệp thông minh nhằm khỏa lấp khoảng trống thiếu hụt lao động. Điển hình tại dự án thực nghiệm nông nghiệp số ở tỉnh Kagoshima, việc đưa công nghệ trí tuệ nhân tạo hiện thân vào canh tác đã giúp tiết kiệm trên 40% thời gian thao tác; việc vận hành điều khiển từ xa qua mạng 5G chuyên dụng nội bộ giúp cắt giảm 56% thời gian lao động, đồng thời rút ngắn một nửa thời gian truyền tải và phân tích dữ liệu bay của thiết bị bay không người lái so với nền tảng mạng 4G trước đây.

Song song đó, chiến lược xuất khẩu tập trung khai thác phân khúc trà bột và trà hữu cơ để gia tăng giá trị đơn hàng tại các thị trường cao cấp. Thông qua các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn chứng nhận hữu cơ, lượng trà hữu cơ xuất khẩu của Nhật Bản trong năm 2025 đã đạt 4.489 tấn. Tỷ trọng trà hữu cơ chiếm tới 62,8% tổng lượng trà xanh xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ và chiếm 63,6% lượng trà cung ứng vào thị trường Liên minh châu Âu cùng Vương quốc Anh.

Các cơ quan chức năng và cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản đang siết chặt liên kết ngành, đẩy mạnh bảo vệ thương hiệu và tận dụng tối đa các cam kết thương mại quốc tế. Vào tháng 4/2026, giới chuyên ngành nước này đã thành lập Hiệp hội Matcha Quốc tế nhằm nghiên cứu, xây dựng các định nghĩa chuẩn hóa, tiêu chuẩn kỹ thuật chất lượng và phân cấp thương mại cho matcha toàn cầu, thúc đẩy giao lưu văn hóa và hợp tác kinh tế.

Đến tháng 7/2026, Bộ Nông Lâm Thủy sản Nhật Bản chính thức cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho thương hiệu “Trà Nhật Bản” đối với các sản phẩm trà xanh được canh tác và chế biến hoàn toàn trong nước. Đáng chú ý, chỉ dẫn địa lý này đã được công nhận bảo hộ đối ứng tại thị trường EU trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác Kinh tế Nhật Bản - EU, tạo hành lang pháp lý vững chắc nhằm ngăn chặn triệt để các hành vi làm giả, làm nhái thương hiệu trên thị trường thế giới.

PHAN VINH