Đánh thức đất cằn từ cây vừa là thức ăn vừa làm thuốc: Bài học đổi mới tư duy từ quả qua lâu

Đặt vấn đề: Nhiều vùng đồi gò, đất dốc tại miền Trung, Tây Bắc hay Tây Nguyên nước ta thường gặp chung một bài toán nan giải: đất khô cằn, sỏi đá, nguồn nước tưới bấp bênh khiến việc trồng lúa hay cây hoa màu thông thường kém hiệu quả. Hậu quả là đất đai bị sử dụng không hiệu quả, trong khi nông dân trẻ lại rời làng đi tìm sinh kế nơi phố thị. Câu chuyện chuyển đổi ngoạn mục tại làng Bạch Sa, huyện Bành Trạch (Cửu Giang, Giang Tây, Trung Quốc) mở ra một gợi ý giàu tính thực tiễn cho nông nghiệp nước ta về cách lựa chọn cây trồng bản địa, tái thiết liên kết sản xuất và đón đầu xu hướng tiêu dùng hiện đại.
trai-qua-lau-1-1791190333.webp

Nhìn ra “kho vàng” từ loài cây hoang dã

Trước năm 2010, Bạch Sa từng là một vùng đất gồ ghề ngổn ngang cỏ dại, đất đai manh mún và cằn cỗi đến mức gieo hạt lúa hay bắp ngô đều cho năng suất bọt bèo. Đứng trước cảnh đồng bãi hoang hóa, Trương Ái Phương, một người con địa phương sau nhiều năm bươn chải nơi đô thị, đã quyết định trở về quê tìm lối đi riêng. Sau nhiều chuyến khảo sát thực địa và thử nghiệm canh tác, chị quyết định đặt cược vào một giống cây vốn mọc hoang dại trên các triền núi: cây qua lâu, có tên khoa học là Trichosanthes kirilowii Maxim., thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae).

Về mặt nông học, qua lâu là loài dây leo thân thảo lâu năm sở hữu bộ rễ củ phình to đâm sâu vào lòng đất, giúp cây có khả năng chịu hạn và thích ứng tốt trên các chân đất dốc, cằn cỗi. Cây sinh trưởng mạnh trên hệ thống giàn mắt lưới, một lần đầu tư gốc có thể khai thác liên tục trong nhiều năm mà không đòi hỏi chi phí cải tạo đất hàng vụ, giúp tiết giảm đáng kể chi phí phân bón và ngày công chăm sóc. Đặc biệt, loài cây này hoàn toàn không tranh chấp diện tích với những vùng đất bờ xôi ruộng mật dành cho cây lương thực, mà tận dụng tối đa các triền đồi, bãi cằn hoang hóa vốn có hiệu quả kinh tế thấp để biến nguồn lực ngủ quên thành nguồn thu nhập đều đặn cho nông dân.

Điểm mấu chốt tạo nên giá trị kinh tế của loài cây này nằm ở khái niệm y sinh học thực phẩm kiêm dược liệu. Cây qua lâu gần như không bỏ đi bất cứ bộ phận nào: Hạt qua lâu (trong Đông y gọi là qua lâu tử hay qua lâu nhân) khi rang chín có vị thơm bùi ngậy tự nhiên, giàu chất béo không bão hòa và vitamin E, trở thành món ăn vặt dưỡng sinh rất được ưa chuộng trên thị trường đô thị. Vỏ quả (qua lâu bì) và đặc biệt là bộ rễ củ phình lớn (vị thuốc nổi tiếng thiên hoa phấn) đều là dược liệu quý, được các nhà máy dược phẩm thu mua với số lượng lớn để điều chế thuốc thanh nhiệt, tiêu viêm và trợ hô hấp.

Hóa giải lực cản tâm lý bằng mô hình “bốn thống nhất, một phân tán”

Dù nhìn thấy tiềm năng của cây trồng mới, bước khởi đầu của Trương Ái Phương không hề bằng phẳng. Tâm lý cố hữu của phần lớn người làm nông nghiệp là e ngại rủi ro trước những giống cây lạ, lo mất mùa, lo thiếu kỹ thuật và đặc biệt là nỗi sợ bị thương lái ép giá khi tới kỳ thu hoạch. Hiểu rằng nếu để bà con tự bơi theo kiểu mạnh ai nấy làm thì phong trào sẽ nhanh chóng lụi tàn, chị đứng ra thành lập hợp tác xã chuyên canh qua lâu và khởi xướng cơ chế liên kết sản xuất chặt chẽ với phương châm “bốn thống nhất, một phân tán”.

Cơ chế này phân định rạch ròi trách nhiệm giữa tập thể và hộ gia đình nhằm giải phóng toàn bộ nỗi lo cho người nông dân. Hợp tác xã đảm nhận bốn mắt xích mang tính xương sống: thống nhất cung ứng cây giống sạch bệnh, chuẩn nguồn gen; thống nhất chuyển giao quy trình kỹ thuật canh tác đạt chuẩn; thống nhất tiêu chuẩn quản lý, phòng trừ sâu bệnh sinh học; và thống nhất thu mua toàn bộ sản lượng đầu ra để cung ứng cho các đối tác công nghiệp. Về phía các hộ thành viên, nhiệm vụ duy nhất của họ là tập trung chăm sóc diện tích đất được phân bổ theo đúng quy trình đã cam kết.

Để tạo dựng niềm tin, Trương Ái Phương trực tiếp xuống đồng làm mẫu trên những mảnh đất khó khăn nhất, cùng ăn cùng làm và hướng dẫn bà con từ khâu bấm ngọn, thụ phấn bổ sung, căng giàn đến phòng trừ nấm bệnh vào mùa mưa ẩm. Khi lứa quả đầu tiên cho hạt mẩy, các đơn vị bao tiêu chuyển tiền đầy đủ, những hộ nông dân từng e ngại nhất cũng đã tự nguyện phá bỏ vườn tạp để tham gia vào chuỗi liên kết. Đến nay, vùng chuyên canh đã nhân rộng lên hơn 1.300 héc-ta, tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định ngay tại chỗ cho hơn 1.000 hộ gia đình địa phương.

Bài học cho bức tranh tái cơ cấu nông nghiệp tại Việt Nam

Đầu tiên là bài toán lựa chọn cây trồng theo hướng đa giá trị đón đầu sự chuyển dịch thị hiếu tiêu dùng. Khi xã hội phát triển, nhu cầu ăn uống của cộng đồng chuyển biến mạnh mẽ từ “ăn no, ăn ngon” sang “ăn khỏe, dưỡng sinh”, mở ra một vùng thị trường rộng lớn cho các sản phẩm nông sản sạch có nguồn gốc thảo dược. So với các cây trồng thông thường, nhóm cây vừa làm thực phẩm vừa làm thuốc sở hữu biên độ chống chịu rủi ro thị trường vượt trội và chuỗi giá trị dài hơn hẳn: một mặt cung ứng nguyên liệu thô ổn định cho các doanh nghiệp dược phẩm, mặt khác có thể chế biến sâu thành đồ ăn vặt, trà túi lọc dưỡng sinh hay thực phẩm chức năng. Việc mở rộng thị trường theo hai nhánh tiêu dùng độc lập này giúp nông hộ thoát khỏi cái bẫy rủi ro khi giá nông sản biến động bất thường.

Thứ hai là sự cần thiết của một “nhạc trưởng” trong chuỗi giá trị. Nông dân cá thể dù cần cù đến mấy cũng khó có thể tự mình tìm kiếm thị trường dược liệu lớn hay xây dựng thương hiệu nông sản sạch. Vai trò của hợp tác xã kiểu mới chính là làm cầu nối tin cậy giữa đồng ruộng và doanh nghiệp chế biến sâu, chuẩn hóa từ mắt xích giống cây đến quy trình thu hoạch để sản phẩm đồng đều về mặt hoạt chất sinh học, từng bước hóa giải điểm yếu kinh niên của phương thức canh tác nông hộ nhỏ lẻ là thiếu chuẩn hóa, thiếu thương hiệu và bế tắc đầu ra.

Hành trình hơn mười năm của vùng đồi Bạch Sa để lại một thông điệp sâu sắc: Phát triển kinh tế nông thôn không cần đến những bản vẽ dự án quá phô trương hay những khẩu hiệu to tát, mà bắt đầu từ việc thấu hiểu thổ nhưỡng, chọn đúng phân khúc thị trường ngách và biết tổ chức người nông dân cùng đi trên một con đường. Khi biết khơi thông nguồn lực bản địa và liên kết bài bản, ngay cả một loài cây dại mọc hoang nơi góc rừng cũng hoàn toàn có thể trở thành ngành kinh tế mũi nhọn làm giàu cho cả một vùng quê.

Nguồn tham khảo: Tounongye

CHỬ ĐỨC CƯỜNG (Viện ASTRI)