Nghiên cứu xác định vùng trồng và các giải pháp kỹ thuật phát triển cây bạc hà và nuôi ong lấy mật tại vùng Cao nguyên đá tỉnh Hà Giang (cũ)

(STNN) - Mật ong bạc hà của tỉnh Hà Giang (cũ) từ lâu đã được ví như thứ "vàng lỏng" quý hiếm mà ngay cả các cường quốc xuất khẩu mật ong trên thế giới cũng không có được. Tinh túy của sản phẩm này gắn liền với loài cây bạc hà dại vươn lên từ sỏi đá của Cao nguyên đá (CNĐ) Đồng Văn. Dù đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý từ năm 2013, nghề nuôi ong tại đây vẫn đối mặt với muôn vàn thách thức.

Trong những năm qua, tỉnh Hà Giang đã ban hành hàng loạt chính sách hỗ trợ vốn, đào tạo và xúc tiến thương mại nhằm phát triển nghề nuôi ong lấy mật, góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc vùng CNĐ Đồng Văn. Tuy nhiên, hành trình đưa mật ong bạc hà vươn xa vẫn gặp phải những rào cản lớn.

Thực tế cho thấy, tập quán chăn nuôi truyền thống mang lại giá trị kinh tế thấp. Dù các hợp tác xã (HTX) đã được hình thành và số lượng đàn ong tăng lên, nhưng quy mô sản xuất vẫn nhỏ lẻ, thiếu vắng các chuỗi liên kết tập trung. Đặc biệt, cây nguồn mật – bạc hà dại (BHD) – chủ yếu mọc tự nhiên tại các chân đất một vụ ngô, chưa được chú trọng gieo trồng bài bản. Diện tích BHD đang đứng trước nguy cơ thu hẹp nghiêm trọng do sự cạnh tranh quỹ đất của cây vụ đông (như tam giác mạch) và thói quen sử dụng thuốc trừ cỏ. Hậu quả là người nuôi ong luôn trong tình trạng thụ động về nguồn mật hoa.

ong-bac-ha-1781835469.png
 

Bên cạnh đó, việc thiếu hụt một hệ thống Cơ sở dữ liệu (CSDL) ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) khiến công tác quản lý, giám sát và hoạch định chiến lược chuỗi giá trị mật ong gặp nhiều khó khăn. Chính từ những đòi hỏi bức thiết này, việc nghiên cứu xác định vùng trồng, chuẩn hóa kỹ thuật và kiến tạo cơ chế liên kết là bài toán bắt buộc phải giải quyết.

Để tháo gỡ những "nút thắt" này, ThS. Lê Thị Mỹ Hảo cùng các cộng sự tại Viện Thổ Nhưỡng Nông hóa - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã thực hiện đề tài nghiên cứu toàn diện về vùng trồng, giải pháp kỹ thuật và cơ chế chính sách đã được triển khai, mở ra chương mới cho ngành nông nghiệp đặc thù của tỉnh: “Nghiên cứu xác định vùng trồng và các giải pháp kỹ thuật phát triển cây bạc hà và nuôi ong lấy mật tại vùng Cao nguyên đá tỉnh Hà Giang”.

Bước đột phá đầu tiên của nghiên cứu là việc điều tra, đánh giá tài nguyên đất đai - cơ sở khoa học tối quan trọng để định hướng cây trồng. Dựa trên đặc thù thổ nhưỡng và tri thức bản địa, nghiên cứu đã tiến hành đánh giá 114.350 ha đất trồng cây hàng năm và đất đồi núi chưa sử dụng tại 4 huyện vùng cao. Kết quả, đã khoanh vùng và đề xuất quy hoạch 88.159,47 ha diện tích đất thích hợp để phát triển trồng cây bạc hà dại. Cụ thể phân bổ như sau: Huyện Yên Minh: 29.045,80 ha; Huyện Mèo Vạc: 28.577,14 ha; Huyện Đồng Văn: 16.651,21 ha; Huyện Quản Bạ: 13.885,24 ha. Con số này là kim chỉ nam giúp các nhà quản lý hoạch định chính sách quy hoạch vùng nguyên liệu BHD trong các giai đoạn tới, đảm bảo nguồn thức ăn dồi dào và ổn định cho đàn ong.

Song song với quy hoạch đất đai, nghiên cứu đã đóng gói thành công 03 quy trình kỹ thuật cốt lõi: (1) Nhân giống BHD; (2) Trồng và chăm sóc BHD; (3) Nuôi ong nội lấy mật bằng thùng kế. Các quy trình này đã được Sở NN&PTNT tỉnh Hà Giang chính thức ban hành (Quyết định số 32/QĐ-SNN-TTBVTV) và tổ chức tập huấn trực tiếp cho 200 hộ dân.

Không dừng lại ở lý thuyết, 06 mô hình liên kết sản xuất và kinh doanh mật ong theo chuỗi giá trị đã được xây dựng thực tế tại 4 huyện. Các mô hình này thu hút thêm 210 thành viên tham gia thông qua hợp đồng cam kết chặt chẽ: từ việc bao tiêu sản phẩm cho người chăn nuôi đến việc trả tiền thuê đất theo vụ cho người có hoa BHD.

Những con số ấn tượng có được từ mô hình liên kết (năm 2020):

* Kết nối thành công 44,75 ha diện tích BHD.

* Quản lý tổng cộng 6.352 đàn ong, tiêu thụ được 10.387 lít mật ong.

* Giá trị sản xuất tăng từ 17,85% - 20,78%, lợi nhuận tăng từ 14,97% - 25,2% so với các hộ sản xuất ngoài mô hình.

* Hỗ trợ 04 máy hạ thủy phần giúp nâng cao chất lượng bảo quản mật, đồng thời thiết kế bao bì (500 vỏ hộp/mô hình) cho 2 mô hình để kết nối với thị trường Hà Nội.

Nhằm tối ưu hóa năng lực quản lý, đề tài đã xây dựng thành công Hệ thống thông tin chuyên biệt cho chuỗi mật ong bạc hà. Hệ thống bao gồm 01 trang thông tin điện tử, 08 module chức năng (quản trị, bản đồ GIS, truy xuất nguồn gốc...) và 05 nhóm CSDL cốt lõi (hành chính, phân vùng, cơ sở kinh doanh, truy xuất, và các dữ liệu khác).

Để biến các giải pháp trên thành hiện thực bền vững, hàng loạt cơ chế đặc thù đã được đề xuất nhằm tạo động lực và giảm thiểu rủi ro cho người dân:

* Hỗ trợ trực tiếp cho người giữ đất trồng BHD: Hỗ trợ 500.000 đồng/ha/năm với đất đang trồng và 5.000.000 đồng/ha/năm với đất khai hoang mới (ngân sách địa phương chịu 50%, doanh nghiệp/HTX chịu 50%).

* Hỗ trợ vốn và hạ tầng: Thực hiện theo Nghị quyết số 209/HĐND, hỗ trợ 100% lãi suất vay trong 2 năm để nông dân mua giống ong nội (A.c.Cerena), thùng kế, máy hạ thủy phần. Cấp 100% kinh phí cho 4 huyện xây dựng vườn giống gốc cây BHD.

* Trợ lực cho doanh nghiệp/HTX: Ưu tiên quỹ đất xây nhà xưởng (1.000 m2) và hỗ trợ 50% tiền thuê trong 5 năm đầu; hỗ trợ lãi suất xây trụ sở và xưởng; tài trợ 70% chi phí xúc tiến thương mại.

* Nghiên cứu gia tăng giá trị: Đề xuất cấp 100% kinh phí nghiên cứu dược tính cây BHD để sản xuất các sản phẩm phụ (như túi thơm phục vụ du lịch), giúp người trồng hoa cũng được hưởng lợi công bằng như người nuôi ong.

Để bảo vệ thành quả và tiến xa hơn, nhóm nghiên cứu khẩn thiết kiến nghị UBND tỉnh và các cơ quan chức năng cần có biện pháp mạnh mẽ bảo vệ diện tích BHD trước sức ép của biến đổi khí hậu và các loại cây trồng cạnh tranh. Đồng thời, cần tiếp tục giao 04 máy hạ thủy phần cho các HTX tại vùng 30a quản lý để duy trì năng lực sản xuất (do thời gian thực hiện mô hình ngắn và chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19). Giao Trung tâm giống Phố Bảng khẩn trương xây dựng vườn giống gốc BHD. Đặc biệt, trong khâu chăn nuôi, cần mạnh dạn ứng dụng công nghệ Thụ tinh nhân tạo (TTNT) để bảo tồn nguồn gen giống ong nội bản địa; đồng thời nhân rộng kỹ thuật nuôi ong trên thùng kế. Kỹ thuật này không chỉ tạo ra dòng mật tinh khiết mà còn hướng tới sản xuất mặt hàng "bánh tổ mật ong bạc hà" – một đặc sản cao cấp hứa hẹn sẽ nâng tầm giá trị thương hiệu mật ong Hà Giang trên bản đồ nông sản quốc tế.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21591/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.