Thương mại nông sản giữa Việt Nam và Trung Quốc trong bối cảnh mới

(STNN) - Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có nền nông nghiệp lâu đời và hiện nay nông nghiệp đã được xác định là lợi thế quốc gia. Vì vậy, cùng với sự phát triển của quan hệ song phương, thương mại nông sản là một trong những lĩnh vực hợp tác quan trọng trong quan hệ Việt - Trung kể từ khi bình thường hóa đến nay. Với lợi thế về năng suất, mẫu mã, chủng loại (nhiều loại rau quả ôn đới Việt Nam không có) và giá cả, hàng nông sản Trung Quốc đã có mặt trên khắp các tỉnh thành của Việt Nam, với kim ngạch nhập khẩu ngày càng tăng.
thuong-mai-nong-san-viet-nam-trung-quoc-stnn-1787536768.png
Phân chia giá trị gia tăng trong kênh xuất khẩu vải tươi sang Trung Quốc.

Cho đến năm 2021, Việt Nam là một trong ba thị trường xuất khẩu hàng đầu liên tục trong nhiều năm của 10 mặt hàng nông sản của Trung Quốc, trong đó có những mặt hàng Việt Nam là thị trường xuất khẩu lớn nhất như táo, cam quýt, tỏi. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản của Trung Quốc sang Việt Nam tăng nhanh hơn tốc độ xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc, cao hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản nói chung của Trung Quốc. Tuy nhiên, đến nay, quản lý nông sản nhập khẩu từ Trung Quốc của Việt Nam chưa có sự bài bản, chặt chẽ, tạo sự yên tâm đối với người tiêu dùng trong nước, ảnh hưởng đến cạnh tranh lành mạnh trên thị trường đối với hàng nông sản Việt Nam.

Ở chiều ngược lại, trong nhiều năm qua, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ nông sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 27% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam với thế giới (năm 2019 là trên 7 tỷ USD), trong đó nhiều mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm tới 70-80% như rau quả, hạt điều, cà phê, gạo, sắn. Theo số liệu thống kê của Trung Quốc, năm 2021, Việt Nam xuất khẩu gần 5 tỷ USD nông sản sang Trung Quốc.

Việt Nam đã khai thác và tận dụng các lợi thế trong trao đổi thương mại với Trung Quốc như có chung đường biên giới và khoảng cách địa lí gần, có hình thức thương mại đa dạng gồm chính ngạch, tiểu ngạch... Tuy nhiên, gần đây, trong khi xuất khẩu nói chung của Việt Nam vẫn tăng trưởng tốt thì xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam sang Trung Quốc lại sụt giảm mạnh. Xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc đang chịu tác động của tình hình mới, cần có sự thay đổi từ bên trong (tổ chức sản xuất đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng) cho đến hình thức thương mại (hình thức xuất khẩu tiểu ngạch đã bộc lộ nhiều hạn chế, cần chuyển hướng sang xuất khẩu chính ngạch).

Dựa trên số liệu thống kê, Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Thị Phương Hoa cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Trung Quốc thực hiện  nghiên cứu “Thương mại nông sản giữa Việt Nam và Trung Quốc trong bối cảnh mới” với mục tiêu làm rõ thực trạng của thương mại nông sản giữa Việt Nam và Trung Quốc trong 10 năm gần đây (từ năm 2012-2021), đồng thời chỉ ra cơ hội, thách thức dưới tác động của bối cảnh mới và đề xuất kiến nghị, giải pháp đối với Việt Nam.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

Thứ nhất, tính chủ động của Việt Nam thấp, tính phụ thuộc tương đối cao. Nhìn từ chuỗi cung ứng, Việt Nam đang phụ thuộc rất lớn vào Trung Quốc từ nguyên liệu đầu vào đến tiêu thụ đầu ra khi nhập khẩu từ nước này 40% phân bón, khoảng 50% thuốc bảo vệ thực vật, nhập khẩu nhiều giống cây, trong đó 70-80% giống lúa lai. Hiện nay, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu nông sản lớn thứ hai của Việt Nam, theo thống kê của Việt Nam, chiếm tới 28% tổng xuất khẩu nông sản. Tỉ trọng xuất khẩu sang Trung Quốc trên tổng xuất khẩu của nhiều mặt hàng rất lớn như sắn và các sản phẩm từ sắn, gạo, thủy sản, hoa quả... Điều này có nghĩa là xuất khẩu của mặt hàng này phụ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc và mỗi động thái của Trung Quốc liên quan đến thương mại đều có tác động tức thời, nhanh chóng. Mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nhiều địa phương cũng phụ thuộc chủ yếu vào thị trường Trung Quốc, từ đó xuất khẩu nông sản nói chung và xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc nói riêng ảnh hưởng đến kinh tế xã hội của nhiều địa phương, thậm chí của cả vùng kinh tế.

Thứ hai, xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc đang đứng trước đòi hỏi phải thay đổi triệt để khi yêu cầu đối với hàng nông sản nhập khẩu của Trung Quốc ngày càng cao, quản lý ngày càng chặt chẽ và cạnh tranh ngày càng gay gắt tại thị trường Trung Quốc.

Thứ ba, sự chuyển hướng sang xuất khẩu chính ngạch của Việt Nam có thể bị ảnh hưởng do sự khác biệt trong định hướng đối với thương mại giữa hai nước. Trong quy hoạch và định hướng phát triển của Chính phủ và của các tỉnh biên giới như Vân Nam, Quảng Tây, thương mại biên giới vẫn được hết sức chú trọng và tiếp tục phát triển, chỉ có điều là họ tăng cường quản lý để khắc phục tồn tại. Trong khi đó, do tính bị động và bấp bênh của hình thức thương mại tiểu ngạch này, Việt Nam muốn có nhiều sản phẩm nông sản được xuất khẩu chính ngạch.

Thứ tư, sự tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị an ninh. Trung Quốc thường xuyên sử dụng “đòn kinh tế để thể hiện phản ứng đối với các động thái chính trị. Hơn nữa, kinh tế cũng là một trong những trụ cột quan trọng để nước này triển khai chính sách ngoại giao láng giềng. Việc tạo điều kiện để hàng nông sản của nước nào đó xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc liên quan chặt chẽ với quan hệ chính trị an ninh. Trong bối cảnh giữa Việt Nam và Trung Quốc còn tồn tại tranh chấp Biển Đông, xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc cũng chịu tác động nhất định của yếu tố chính trị an ninh, có thể nó không được thể hiện công khai trực tiếp bằng cách lệnh 45 trừng phạt nói trên nhưng được thực hiện thông qua vỏ bọc là các biện pháp quản lý thương mại thông thường.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 22296/2023) tại Cục Thông tin, Thống kê.