Diện tích rau vụ đông tăng vọt gần 36%, đàn vật nuôi sẵn sàng nguồn cung Tết

(STNN) - Báo cáo mới nhất từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy bức tranh nông nghiệp 10 tháng năm 2026 duy trì đà khởi sắc rõ rệt. Tiến độ thu hoạch lúa mùa tăng tốc đạt hơn 955 nghìn hécta, diện tích rau vụ đông bứt phá tới 35,8%, cùng đà tăng trưởng vững chắc của tổng đàn gia súc, gia cầm đang tạo điểm tựa vững chắc để bình ổn giá cả và bảo đảm dồi dào nguồn thực phẩm cho thị trường những tháng cao điểm cuối năm.
chan-nuoi-1793845060.jpg
Cơ sở chăn nuôi gia cầm quy mô lớn ứng dụng đệm lót sinh học và hệ thống thông gió kiểm soát vi khí hậu tự động, bảo đảm nguồn cung thực phẩm an toàn - Hình minh họa.

Đẩy nhanh thu hoạch lúa mùa, linh hoạt khung thời vụ

Vụ mùa năm 2026, sơ bộ cả nước gieo cấy đạt 1.369,9 nghìn ha, giảm 40,4 nghìn ha so với vụ mùa năm trước. Trong đó, miền Bắc gieo cấy đạt 945,3 nghìn ha, giảm 32,7 nghìn ha; miền Nam đạt 424,6 nghìn ha, giảm 7,7 nghìn ha. Diện tích gieo cấy lúa mùa giảm chủ yếu do các địa phương chủ động chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây hằng năm, cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao hơn hoặc chuyển đổi mục đích sang đất phi nông nghiệp phục vụ các công trình công cộng, hạ tầng và khu công nghiệp. Điển hình, thành phố Hà Nội giảm 6,0 nghìn ha do chuyển mục đích phục vụ các dự án trọng điểm; tỉnh Bắc Ninh giảm 2,6 nghìn ha phục vụ xây dựng sân bay, khu công nghiệp và nhà ở xã hội; tỉnh Ninh Bình giảm 5,9 nghìn ha; tỉnh Gia Lai giảm 3,7 nghìn ha và tỉnh An Giang giảm 6,9 nghìn ha do chuyển sang nuôi tôm. Bên cạnh đó, một phần diện tích không thể gieo cấy do điều kiện sản xuất khó khăn, ngập úng tại Thanh Hóa (giảm 3,9 nghìn ha), thiếu nước tại vùng núi Nghệ An (giảm 2,2 nghìn ha) và ảnh hưởng của triều cường tại Cà Mau (giảm 2,1 nghìn ha).

Nhờ thời tiết tháng 10 tương đối thuận lợi, tiến độ thu hoạch lúa mùa diễn ra khẩn trương và nhanh hơn cùng kỳ năm trước. Tính đến ngày 20/10/2026, cả nước đã thu hoạch được 955,2 nghìn ha lúa mùa, đạt 69,7% tổng diện tích gieo cấy và bằng 102,9% cùng kỳ năm 2025. Riêng miền Bắc tiến độ đạt khá cao với 673,2 nghìn ha, đạt 71,2% diện tích và bằng 105,6% cùng kỳ; miền Nam thu hoạch 282,0 nghìn ha, đạt 66,4% diện tích. Nhiều địa phương ghi nhận tiến độ thu hoạch tăng vượt bậc so với cùng kỳ năm trước như Ninh Bình đạt 97,1 nghìn ha (tăng 20,3 nghìn ha), Bắc Ninh đạt 52,6 nghìn ha (tăng 8,6 nghìn ha), Hưng Yên đạt 84,0 nghìn ha (tăng 7,4 nghìn ha) và Phú Thọ đạt 65,4 nghìn ha (tăng 4,5 nghìn ha).

Đối với lúa thu đông, tính đến ngày 20/10/2026, các tỉnh phía nam đã xuống giống được 696,2 nghìn ha, bằng 90,9% cùng kỳ năm trước. Tiến độ xuống giống tại một số vùng có phần chậm hơn cùng kỳ là bước đi chủ động của các địa phương nhằm né tránh tác động tiêu cực của mưa bão và triều cường. Cụ thể, diện tích xuống giống tại An Giang đạt 233,0 nghìn ha (bằng 94,0% cùng kỳ), Tây Ninh đạt 130,4 nghìn ha (bằng 92,6%), Đồng Tháp đạt 120,1 nghìn ha (bằng 87,2%) và Vĩnh Long đạt 83,6 nghìn ha (bằng 78,1%).

Mở rộng diện tích gieo trồng cây vụ đông

Song hành cùng công tác thu hoạch lúa mùa và gieo cấy lúa thu đông, nông dân các địa phương trên cả nước đang tích cực đẩy mạnh sản xuất cây vụ đông. Khác với cùng kỳ năm trước khi thời tiết phía bắc chịu ảnh hưởng nặng nề bởi mưa bão và ngập úng, điều kiện khí hậu năm nay tương đối thuận hòa, tạo đà cho diện tích cây hoa màu tăng trưởng mạnh.

Số liệu thống kê đến ngày 20/10/2026 cho thấy phần lớn các loại cây hằng năm đều có diện tích gieo trồng tăng cao so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, diện tích ngô đạt 43,9 nghìn ha, tăng 35,5%; các loại rau màu đạt 79,7 nghìn ha, tăng 35,8%; diện tích lạc đạt 2,8 nghìn ha, tăng 33,3%; đậu tương đạt 1,2 nghìn ha, tăng 20,0% và khoai lang đạt 6,7 nghìn ha, tăng 19,6%. Sự phục hồi và mở rộng kịp thời của nhóm cây rau màu không chỉ tận dụng tốt quỹ đất sau thu hoạch lúa mà còn góp phần quan trọng bảo đảm nguồn cung nông sản thực phẩm dồi dào, bình ổn thị trường tiêu dùng nội địa trong các tháng cuối năm.

Chăn nuôi phục hồi, tăng cường an toàn sinh học

Bức tranh ngành chăn nuôi trong tháng 10 và 10 tháng năm 2026 tiếp tục xu hướng phân hóa rõ nét giữa các đối tượng vật nuôi. Trong khi chăn nuôi đại gia súc gặp nhiều khó khăn thì đàn lợn và đàn gia cầm đạt mức tăng trưởng khả quan, thể hiện năng lực thích ứng và chuyển đổi quy mô của khu vực sản xuất tập trung.

Cụ thể, đàn lợn cả nước ước tính tại thời điểm cuối tháng 10 tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2025. Nhận định nhu cầu tiêu thụ thịt tăng cao vào dịp Tết Nguyên đán sắp tới, nhiều địa phương đã chủ động đẩy mạnh tái đàn. Nòng cốt thúc đẩy mức tăng trưởng này là các doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn nhờ chủ động con giống, thức ăn, duy trì quy trình chăn nuôi khép kín và nghiêm ngặt thực hiện các biện pháp an toàn sinh học. Một số địa phương có tốc độ tăng đàn lợn nổi bật gồm Cao Bằng tăng 35,0% (trên nền phục hồi sau dịch tả lợn châu Phi năm trước), Quảng Ngãi tăng 15,5%, Gia Lai tăng 12,0%, Thanh Hóa tăng 11,8%, Phú Thọ tăng 8,3% và Tuyên Quang tăng 7,8%. Tuy vậy, việc giá lợn hơi trong tháng có chiều hướng giảm khoảng 2,5% so với tháng trước trong khi giá thức ăn chăn nuôi và chi phí đầu vào vẫn duy trì ở mức cao đang tạo áp lực giảm lợi nhuận, khiến khu vực chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ còn thận trọng trong việc tái đàn.

Chăn nuôi gia cầm duy trì đà phát triển ổn định với tổng đàn tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường tiêu thụ thịt và trứng gia cầm ổn định đã khuyến khích người nuôi chủ động mở rộng đàn phục vụ mùa vụ tiêu dùng cao điểm. Các địa phương có đàn gia cầm tăng trưởng khá bao gồm Cần Thơ tăng 10,8%, Tuyên Quang tăng 10,6%, Lâm Đồng tăng 9,1%, Nghệ An tăng 7,1%, Thanh Hóa và An Giang cùng tăng 6,5%.

Ở chiều ngược lại, tổng đàn trâu cả nước tiếp tục đà suy giảm 6,2% do diện tích chăn thả tự nhiên ngày càng thu hẹp, chu kỳ nuôi kéo dài và hiệu quả kinh tế không cao; một số địa phương giảm sâu như Thanh Hóa giảm 10,8%, Tuyên Quang và Quảng Ngãi đều giảm 9,2%, Phú Thọ giảm 6,2%. Đàn bò cả nước giảm nhẹ 1,4% do thiếu thức ăn thô xanh và chăn nuôi nhỏ lẻ kém hiệu quả, thể hiện rõ tại Thanh Hóa (giảm 9,5%), Phú Thọ (giảm 4,4%), Đắk Lắk (giảm 3,6%). Dẫu vậy, tại các địa phương có lợi thế về đồng cỏ, nguồn phụ phẩm nông nghiệp kết hợp chính sách hỗ trợ giống và phát triển trang trại hàng hóa, đàn bò vẫn tăng khá như Đồng Nai tăng 3,7%, Lâm Đồng tăng 3,5%, Nghệ An tăng 3,4% và Gia Lai tăng 1,7%.

Về tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi, công tác kiểm soát dịch tễ tiếp tục được các cấp, các ngành triển khai quyết liệt. Tính đến ngày 26/10/2026, cả nước không còn ổ dịch tai xanh và lở mồm long móng; dịch viêm da nổi cục chỉ còn ghi nhận tại 02 địa phương; dịch cúm gia cầm còn tại 04 địa phương và dịch tả lợn châu Phi còn tại 26 địa phương chưa qua 21 ngày.

Nhìn chung, kết quả sản xuất nông nghiệp 10 tháng năm 2026 khẳng định tính chủ động, linh hoạt của các địa phương và người dân trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ cũng như phát triển chăn nuôi an toàn sinh học. Đây là tiền đề vững chắc để ngành nông nghiệp hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu kế hoạch cả năm 2026, giữ vững vai trò bệ đỡ của nền kinh tế và bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống.

LÊ KHÁNH