Một số mặt hàng tăng về lượng nhưng giảm về giá trị
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Bộ NN&MT), trong 4 tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm, thủy sản cơ bản duy trì ổn định, tạo nền tảng nguồn cung cho tiêu dùng, chế biến và xuất khẩu. Sản xuất trồng trọt tiếp tục được duy trì ổn định; một số cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm đạt tăng trưởng khá. Chăn nuôi lợn và gia cầm phát triển nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh và thị trường tiêu thụ; thủy sản tiếp tục tăng trưởng; lâm nghiệp duy trì đà phát triển ở cả trồng rừng, bảo vệ rừng và khai thác gỗ.
Về tổng thể, dù còn một số khó khăn cục bộ ở từng lĩnh vực, kết quả sản xuất 4 tháng đầu năm 2026 cho thấy ngành Nông nghiệp và Môi trường vẫn bảo đảm được sản xuất ổn định, nguồn cung tương đối vững chắc, tạo điều kiện để duy trì tiêu dùng nội địa và đơn hàng chế biến, xuất khẩu trong các tháng tiếp theo.
Cụ thể, 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2025; nhập khẩu đạt 17,65 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ; cán cân thương mại tiếp tục duy trì thặng dư.
Về thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực xuất khẩu lớn nhất, chiếm 44,1% ; tiếp theo là châu Mỹ (20,9%) và châu Âu (15,8%). Xét theo thị trường cụ thể, Trung Quốc với 21,1%, Hoa Kỳ với 18,5% và Nhật Bản với 7% là 3 thị trường xuất khẩu lớn nhất của nông, lâm, thủy sản Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026. So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 28,8%, Nhật Bản tăng 1,3%, trong khi Hoa Kỳ giảm 4,8%.
Về ngành hàng, 4 tháng đầu năm 2026 ghi nhận ngành rau quả đạt 2,05 tỷ USD, tăng 21,6%; sầu riêng tiếp tục là động lực tăng trưởng nổi bật. Ngành thủy sản đạt 3,54 tỷ USD, tăng 10,4%; Trung Quốc là động lực tăng trưởng chính, trong khi thị trường Hoa Kỳ giảm.
Tương tự, ngành hồ tiêu tăng mạnh cả lượng và giá trị, tiếp tục khẳng định vai trò của doanh nghiệp đầu tàu trong chế biến và mở rộng thị trường. Hay như sắn và sản phẩm từ sắn tăng khá do nhu cầu tăng mạnh từ Trung Quốc. Gỗ và sản phẩm gỗ đạt 5,34 tỷ USD, giảm 1,1%; gạo giảm cả về lượng và giá trị; cà phê tăng về lượng nhưng giảm về giá trị; hạt điều giảm nhẹ; chè giảm về lượng.
Bộ NN&MT cũng đánh giá, qua số liệu 4 tháng đầu năm 2026, có thể thấy một số mặt hàng tăng về lượng nhưng giảm về giá trị, điển hình như gạo và cà phê; điều này phản ánh giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào sản lượng và xuất khẩu thô.
Trong khi đó, các ngành hàng có mức tăng trưởng tốt hơn chủ yếu là những ngành bước đầu khai thác được lợi thế về chế biến, chất lượng, xuất khẩu chính ngạch, mở cửa thị trường hoặc thời điểm thị trường thuận lợi như rau quả, thủy sản, hồ tiêu. Điều đó cho thấy, yếu tố quyết định tăng trưởng trong giai đoạn tới không còn là sản lượng đơn thuần, mà là khả năng kiểm soát chất lượng, tiêu chuẩn, thương hiệu, chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng.
Kết quả này cũng cho thấy xuất khẩu nông sản tăng trưởng nhưng chưa thật sự đồng đều và một số lĩnh vực có yếu tố chưa bền vững; một số ngành hàng tăng do phục hồi cục bộ của thị trường thế giới hoặc do thời điểm mùa vụ, trong khi nhiều mặt hàng chủ lực vẫn chịu áp lực về giá, chi phí logistics, rào cản kỹ thuật và thay đổi chính sách của thị trường.
Kết quả 4 tháng đầu năm 2026 tiếp tục là điểm sáng, là cơ sở tích cực của ngành và của nền kinh tế, khẳng định vai trò quan trọng trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động. Tuy nhiên, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm, yêu cầu đặt ra trong các tháng còn lại là phải chuyển mạnh sang tăng trưởng chủ động trên nền tảng tái cơ cấu, chất lượng, tiêu chuẩn và chuỗi giá trị.
Đối mặt với nhiều áp lực
Cũng theo Bộ NN&MT, việc đảm bảo tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2026 đạt trên 74,2 tỷ USD là một trong những mục tiêu quan trọng của ngành nông nghiệp và môi trường trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động khó lường và các thách thức về thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, bước sang Quý II và cả năm 2026, tình hình kinh tế - chính trị thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Xung đột, chiến sự tại khu vực Trung Đông tiếp tục ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến giá năng lượng, chi phí vận tải và làm gia tăng rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu. Kinh tế thế giới phục hồi chậm, nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường lớn chưa ổn định; áp lực lạm phát, chính sách tiền tệ thắt chặt tại một số nền kinh tế lớn tiếp tục ảnh hưởng đến thương mại toàn cầu.
Cùng với đó, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng; các quốc gia tăng cường áp dụng các rào cản kỹ thuật, tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và giảm phát thải...
Điều này sẽ đặt ra những thách thức tác động trực tiếp đến xuất khẩu nông lâm thủy sản trong Quý II và cả năm 2026. Cụ thể, chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – xuất khẩu còn thiếu chặt chẽ. Nhiều vùng nguyên liệu chưa gắn chặt với doanh nghiệp xuất khẩu; truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói, cơ sở chế biến chưa được quản trị thống nhất; khả năng điều tiết cung ứng theo yêu cầu đơn hàng còn hạn chế.
Năng lực tuân thủ các tiêu chuẩn mới của thị trường còn bất cập. Các quy định như EUDR, IUU, tiêu chuẩn phát thải, yêu cầu về an toàn thực phẩm, kiểm soát dư lượng, tính hợp pháp của nguồn nguyên liệu v.v. đang chuyển từ rào cản kỹ thuật sang “điều kiện gia nhập thị trường”. Điều này đặc biệt rõ với gỗ, thủy sản, rau quả, cà phê, cao su.
Cơ cấu thị trường và cơ cấu mặt hàng còn tiềm ẩn rủi ro. Nhiều ngành hàng phụ thuộc lớn vào một vài thị trường chủ lực; khi chính sách thay đổi hoặc nhu cầu suy giảm, toàn ngành dễ bị tác động mạnh. Nguy cơ xuất khẩu tăng trưởng thấp do nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường chủ lực phục hồi chậm, trong khi chi phí logistics, bảo hiểm và rủi ro thị trường gia tăng dưới tác động của bất ổn địa chính trị, đặc biệt là diễn biến tại khu vực Trung Đông.
Tác động kéo dài của các chính sách thuế quan, thương mại từ năm 2025; khả năng các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU tiếp tục điều chỉnh chính sách nhập khẩu, gia tăng rào cản kỹ thuật, ảnh hưởng đến khả năng duy trì và mở rộng thị phần của các mặt hàng chủ lực. Gia tăng các yêu cầu về tiêu chuẩn “xanh”, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng; các biện pháp kiểm soát gian lận thương mại, xuất xứ hàng hóa, trung chuyển hàng hóa ngày càng chặt chẽ, làm gia tăng chi phí tuân thủ của doanh nghiệp.
Áp lực đảm bảo nguồn cung nguyên liệu ổn định, bền vững phục vụ chế biến và xuất khẩu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh diễn biến khó lường; nguy cơ đứt gãy chuỗi liên kết sản xuất nếu đơn hàng suy giảm kéo dài.
Cạnh tranh gia tăng từ các quốc gia xuất khẩu nông sản lớn như Thái Lan, Ấn Độ, Brazil, Indonesia... khi các nước này đẩy mạnh hỗ trợ sản xuất, tận dụng lợi thế chi phí và mở rộng thị trường, tạo áp lực lớn đối với năng lực cạnh tranh lên hàng nông sản Việt Nam. Xu hướng suy giảm cầu và biến động giá trên thị trường quốc tế có thể ảnh hưởng đến giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực như: gạo, rau quả, thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ...
Nỗ lực hoàn thành mục tiêu
Từ những khó khăn, thách thức trên, Bộ NN&MT cũng đưa ra những giải pháp để hoàn thành mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy năm 2026 và phát triển bền vững của ngành nông nghiệp và môi trường. Theo đó, cần theo dõi sát thị trường, chủ động điều hành linh hoạt theo tháng, theo quý. Có cơ chế cập nhật, dự báo và cảnh báo sớm về thị trường, giá cả, logistics, tác động của xung đột địa chính trị, thay đổi chính sách nhập khẩu, nhất là đối với thị trường lớn, truyền thống. Việc điều hành xuất khẩu phải gắn chặt với thông tin thị trường, tránh tình trạng phản ứng chậm, xử lý bị động.
Tập trung tháo gỡ khó khăn cho các ngành hàng có nguy cơ suy giảm giá trị xuất khẩu. Đối với gạo, cà phê, gỗ, cao su, chè và một số mặt hàng có dấu hiệu giảm giá trị, cần triển khai ngay các giải pháp giữ thị trường, cơ cấu lại phân khúc sản phẩm, tăng tỷ trọng chế biến, mở rộng thị trường thay thế, hỗ trợ xử lý vướng mắc về logistics, tín dụng và thông quan.
Hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với biến động logistics, tín dụng, thanh toán. Triển khai cơ chế tiếp nhận thông tin, xử lý nhanh các vướng mắc về hợp đồng, thanh toán, lưu kho, chậm giao hàng; tăng hỗ trợ tín dụng lưu động, cơ cấu nợ, kho lạnh, bảo quản đối với các ngành hàng dễ hư hỏng và phụ thuộc vận tải đường dài. Dự thảo báo cáo đã nêu rõ yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh xung đột khu vực và rủi ro vận chuyển quốc tế gia tăng.
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại có trọng tâm, trọng điểm đó là xúc tiến thương mại phải chuyển từ quảng bá đơn thuần sang xúc tiến gắn với mở cửa thị trường, xử lý kỹ thuật, kết nối chuỗi nhập khẩu, phát triển kênh phân phối và thương mại điện tử xuyên biên giới; ưu tiên các thị trường thay thế và bổ sung như ASEAN, Nam Á, Trung Đông, châu Phi, châu Mỹ La tinh, song song với giữ vững các thị trường truyền thống.
Tiếp tục triển khai thực hiện các Chiến lược phát triển từng ngành hàng trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp nhằm duy trì sản xuất, đảm bảo nguồn cung phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu; chủ động xây dựng, triển khai, điều chỉnh kế hoạch sản xuất theo chuỗi giá trị, ứng phó phù hợp, kịp thời với diễn biến thị trường nhằm hạn chế mất cân đối cung cầu và biến động giá cả.
Quản lý chặt chẽ chất lượng trong sản xuất, chế biến và chứng nhận sản phẩm đảm bảo các tiêu chuẩn, quy định của thị trường, truy xuất được nguồn gốc sản phẩm, làm cơ sở để phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam. Đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại ngành, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản.
Thúc đẩy tiêu thụ nông sản tại thị trường trong nước và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản; Khai thác tốt thị trường Halal; triển khai các nhiệm vụ nhằm khai thác tốt hơn thị trường Trung Quốc, bảo đảm ổn định đầu ra cho nông sản; tăng cường các hoạt động phát triển thị trường, kết nối, quảng bá nông sản tại các thị trường lớn nhưng thị phần còn chưa tương xứng như EU, Nhật Bản; tiếp tục đàm phán mở cửa thị trường các nhóm chủ lực như trái cây và nhóm sản phẩm tiềm năng còn nhiều dư địa xuất khẩu như sản phẩm chăn nuôi, Halal.
Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại tại các thị trường thay thế tiềm năng như: Đông Á, Nam Á, EU, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Tận dụng hiệu quả các FTA đã ký kết để mở rộng thị phần. Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ, kết nối giao thương trực tuyến và phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới.
Phối hợp với các Hiệp hội ngành hàng nông sản chủ lực (điều, cà phê, hồ tiêu, thủy sản, lúa gạo, rau quả…) cập nhật tình hình xuất khẩu của cộng đồng doanh nghiệp, biến động thị trường và đề xuất giải pháp linh hoạt tháo gỡ khó khăn theo từng ngành hàng.